vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Lệ Th. Chị Dương Lệ Th được ly hôn với anh Lý Văn M. Về con chung: Giao con chung tên Lý Thảo V, sinh ngày 06/5/2017 và Lý Diễm H, sinh ngày 01/01/2022 cho chị Dương Lệ Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu V và cháu H đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Về việc tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2023
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Tấn Liêm

2. Ông Nguyễn Văn Sol

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 591/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Lệ Th, sinh năm 1992 (Vắng mặt và có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số H, Lê Hồng Ph, khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lý Văn M, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 19/7/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Dương Lệ Th trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lý Văn M tự nguyện tìm hiểu nhau và được sự đồng thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào khoảng năm 2015 nhưng đến ngày 03/7/2017 chị và anh M mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống chị và anh M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bởi anh M không chăm lo gì cho vợ con mà chỉ chăm lo cho bản thân anh M, anh M thường xuyên say xỉn và cố tình gây sự với chị, thậm chí anh M còn cho rằng cháu Lý Diễm H không phải là con ruột của anh M để chì chiết chị, khiến chị và anh M bất đồng quan điểm đến mức trầm trọng hơn, hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nữa, anh M đã bỏ nhà đi từ giữa tháng 01/2022 cho đến nay. Nay, xét thấy hôn nhân giữa chị và anh Lý Văn M không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn M.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Lý Văn M có hai người con chung tên Lý Thảo V, sinh ngày 06/5/2017 và Lý Diễm H, sinh ngày 01/01/2022; hiện các con đang sống cùng với chị. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Lý Văn M không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ thu, nợ trả: Trong thời gian chung sống chị và anh Lý Văn M không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là anh Lý Văn M được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà anh M không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của chị Dương Lệ Th. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ hai lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chỉ có nguyên đơn là chị Dương Lệ Th có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, bị đơn là anh Lý Văn M vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải được, cũng như nghe ý kiến của anh M về yêu cầu ly hôn của chị Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa chị Dương Lệ Th và anh Lý Văn M là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng nguyên đơn là chị Dương Lệ Th vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Lý Văn M vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Lệ Th và anh Lý Văn M tự nguyện tiến đến hôn nhân, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 03/7/2017 nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh M là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Theo chị Dương Lệ Th trình bày thì trong thời gian chung sống chị và anh Lý Văn M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bởi anh M không chăm lo gì cho vợ con mà chỉ chăm lo cho bản thân anh M, anh M thường xuyên say xỉn và cố tình gây sự với chị, thậm chí anh M còn cho rằng cháu Lý Diễm H không phải là con ruột của anh M để chì chiết chị, khiến chị và anh M bất đồng quan điểm đến mức trầm trọng hơn, hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nữa, anh M đã bỏ nhà đi từ giữa tháng 01/2022 cho đến nay; nay, xét thấy hôn nhân giữa chị và anh M không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M. Đối với anh Lý Văn M, trong quá trình tố tụng anh M đã biết được thông báo thụ lý vụ án, giấy mời, giấy triệu tập của Tòa án nhưng anh M không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Dương Lệ Th, như vậy anh M đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với chị Th. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Dương Lệ Th và anh Lý Văn M đã không còn, chị Th cương quyết ly hôn, anh M biết được sự việc nhưng không có thiện chí hàn gắn, cả hai đã bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau từ giữa tháng 01 năm 2022 cho đến nay, điều này cho thấy hôn nhân giữa chị Th và anh M đã không còn hạnh phúc và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Lệ Th là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Theo chị Dương Lệ Th trình bày thì trong thời gian chung sống chị Th và anh Lý Văn M có hai người con chung tên Lý Thảo V, sinh ngày 06/5/2017 và Lý Diễm H, sinh ngày 01/01/2022; hiện các con đang sống cùng với chị Th. Xét thấy, cháu V và cháu H vẫn còn nhỏ và đang sống ổn định cùng với chị Th từ lúc anh M bỏ nhà đi (Giữa tháng 01/2022) cho đến nay; mặt khác, chị Th có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu V và cháu H, anh M không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị Th; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th giao cháu V và cháu H cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương Lệ Th không yêu cầu anh Lý Văn M cấp dưỡng nuôi con, anh M không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Theo chị Dương Lệ Th trình bày thì trong thời gian chung sống chị Th và anh Lý Văn M không có tài sản chung, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh M không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ thu, nợ trả: Theo chị Dương Lệ Th trình bày thì trong thời gian chung sống chị Th và anh Lý Văn M không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh M không có ý kiến gì nên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Lệ Th. Chị Dương Lệ Th được ly hôn với anh Lý Văn M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lý Thảo V, sinh ngày 06/5/2017 và Lý Diễm H, sinh ngày 01/01/2022 cho chị Dương Lệ Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu V và cháu H đủ 18 tuổi.

Anh Lý Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Dương Lệ Th.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương Lệ Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung: Chị Dương Lệ Th trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về nợ thu, nợ trả: Chị Dương Lệ Th trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

6. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Dương Lệ Th phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008520 ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Chị Dương Lệ Th và anh Lý Văn M vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ