vanban.org

Bản án 29/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Võ Ngọc S trả cho Ngân hàng số tiền 13.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Ngọc S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Về án phí: ông Võ Ngọc S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vat"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Võ Ngọc S trả cho Ngân hàng số tiền 13.
  • Căn cứ chính? Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/DS-ST
Ngày: 27/12/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mỹ Dung;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Điều; ông Nguyễn Đăng Đúng

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Ngọc Bảo Thi – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2023/QĐST-DS ngày 11/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền bà T chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP S- chi nhánh Phú Yên. (Văn bản ủy quyền số 161/2022/GUQ-CNPY ngày 25/4/2022). Có mặt.

Bị đơn: Ông Võ Ngọc S, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn Phước Lộc 2, xã Hoà Thành, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Ngày 12/6/2017, ông Võ Ngọc S có ký với Ngân hàng giấy đề nghị cấp thẻ kim hợp đồng tín dụng số 925787. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, do ông Sâm không trả nợ cho Ngân hàng nên ngày 31/10/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn là 14.948.900 đồng. Từ ngày 31/10/2022, Ngân hàng đã nhiều lần liên lạc yêu cầu trả nợ nhưng ông S vẫn không có thiện chí trả nợ, ông S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 27/12/2023, ông S còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là: 508.900 đồng, nợ lãi 12.860.526 đồng. Tổng cộng: 13.369.426 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Ngọc S có nghĩa vụ trả số tiền nợ nói trên và số tiền lãi phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết cho đến khi ông Sâm trả dứt nợ. Ông S phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh liên quan trong vụ án.

Tại biên bản xác minh ngày 21/6/2022 xác định: Ông Võ Ngọc S có hộ khẩu đăng ký tại Thôn P, xã H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Hiện nay ông S không có mặt ở địa phương. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, đồng thời không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có lời trình bày, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự. Do đó phải chịu hậu quả pháp lý về việc không cung cấp chứng cứ và chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Võ Ngọc S phải trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 13.369.426 đồng, trong đó nợ gốc 508.900 đồng, nợ lãi quá hạn 12.860.526 đồng và tiền lãi theo Hợp đồng cho đến ngày trả dứt điểm dư nợ; bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và ông Võ Ngọc S là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn ông Võ Ngọc S có nơi cư trú tại Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bị đơn tự nguyện giao kết hợp đồng vay với nguyên đơn, nhưng bị đơn rời khỏi địa phương thời gian trên 06 tháng mà không thông báo cho Chính quyền địa phương và phía nguyên đơn biết; nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ hiện tại. Đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che dấu địa chỉ, theo quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

Tòa án đã tiến hành hòa giải hai lần, đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa đến lần thứ hai, bị đơn được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào các Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Xét hợp đồng vay tài sản: 12/6/2017, ông Võ Ngọc S có ký với Ngân hàng hợp đồng mở thẻ tín dụng số 925787. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp, không tài sản bảo đảm, lãi suất là 31,2%/năm. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông S đã kích hoạt thẻ và thực hiện giao dịch đầu kỳ từ ngày 31/7/2017, lần cuối cùng giao dịch là 28/02/2019. Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng cung cấp, có cở sở khẳng định thực tế có sự giao kết hợp đồng giữa Ngân hàng và ông Võ Ngọc S. Việc giao kết này dựa trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không bị lừa dối, ép buộc; các bên đều có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Hợp đồng có hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại Điều 401, 402, 405 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 94, 95, 118 Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên có hiệu lực với các bên tham gia.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình sử dụng thẻ, ông S đã không thực hiện theo đúng cam kết, khi đến hạn trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông Sâm vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 31/10/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ gốc quá hạn, tính lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm các bên thỏa thuận. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông Sâm đã vi phạm quy định của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, vi phạm Điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Tính đến ngày xét xử (27/12/2023), ông Sâm còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là: 508.900 đồng, nợ lãi 12.860.526 đồng. Tổng cộng: 13.369.426 đồng.

Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ và các giấy triệu tập tham gia các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, các phiên hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Sâm vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày đối với yêu cầu của Ngân hàng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Khoản 2 Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc ông Võ Ngọc S phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền: 13.369.426 đồng (Mười ba triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 508.900 đồng (năm trăm linh tám nghìn, chín trăm đồng), nợ lãi 12.860.526 đồng (mười hai triệu, tám trăm sáu mươi nghìn, năm trăm hai mươi sáu đồng), tính đến ngày 27/12/2023.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông S chậm thanh toán tiền thì tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 668.471 đồng (sáu trăm sáu mươi tám nghìn, bốn trăm bảy mươi mốt đồng), hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 485.000 đồng (Bốn trăm tám mươi lăm nghìn đồng) được nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001971 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 401, 402, 405, 429, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 94, 95, 118 Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Điều 9, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Võ Ngọc S trả cho Ngân hàng số tiền 13.369.426 đồng (Mười ba triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 508.900 đồng (năm trăm linh tám nghìn, chín trăm đồng), nợ lãi 12.860.526 đồng (mười hai triệu, tám trăm sáu mươi nghìn, năm trăm hai mươi sáu đồng), tính đến ngày 27/12/2023.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Ngọc S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Về án phí: ông Võ Ngọc S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 668.471 đồng (sáu trăm sáu mươi tám nghìn, bốn trăm bảy mươi mốt đồng), hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 485.000 đồng (Bốn trăm tám mươi lăm nghìn đồng) được nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001971 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ