vanban.org

Bản án 29/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt đối vớ i bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S.

Buộc bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S h có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt tổng số tiền vay còn nợ là 40.321.785 đồng. Trong đó nợ gốc là 29.779.932 đồng; tiền lãi trong hạn là 874.497 đồng; tiền lãi quá hạn là 9.667.356 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt đối vớ i bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/DS-ST
Ngày: 22 – 6 – 2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Quang Sô

2. Ông Nguyễn Quốc Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2022/TLST-DS, ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt.

Trụ sở chính: Tòa nhà Capital Tower, số 109 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn Sơn - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu Tân – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt - Chi nhánh Hậu Giang.

Địa chỉ: Số 32 đường Nguyễn Công Trứ, phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ông Trần Hữu Tân ủy quyền lại cho anh Dương Chi Khanh - Chức vụ:

́ Chuyên viên.

- Bị đơn:

1. Bà Thị H, sinh năm: 1980.

Nơi cư trú: Ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1980.

Nơi cư tru: Ấp Vĩnh H́

, xã V, huyê ̣n G, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt (viết tắ t là Ngân hà ng Liên Viê ̣t) trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Hâ ̣u Giang – Phòng giao dịch Long Mỹ đa cẫ ́p tin du ̣ng cho bà Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn

́

Sinh số tiền 50.000.000 đồng theo hợp đồng tin du ̣ng số HDTD803202100635

́

ký ngày 20/4/2021 và khế ước nhận nợ số 803202100635/01 ký ngày 20/4/2021 vớ i số tiền là 50.000.000 đồng, nhâ ̣n nợ ngày 20/4/2021 , mục đích vay: Trồng lúa, nuôi lươn; thời hạn vay là 11 tháng, kể từ ngày 21/4/2021 đến ngày 18/3/2022; lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tại thời điểm giải ngân là 13%/năm, lãi suất được tự động điều chỉnh định kỳ theo quy định của Ngân hàng Liên Việt; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bà Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn Sinh không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi cũng như nợ gốc đúng hạn. Khoản vay đã quá hạn từ ngày 19/3/2022. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và thông báo nợ quá hạn nhưng bà Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn Sinh vẫn không thanh toán cho Ngân hàng.

Nay, Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt khởi kiện yêu cầu bà Thị H và ông Nguyễn Văn S thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay tính đến ngày 22/6/2023 là 40.321.785 đồng. Trong đó nợ gốc là 29.779.932 đồng; tiền lãi trong hạn là 874.497 đồng; tiền lãi quá hạn là 9.667.356 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán khoản vay.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt khởi kiện yêu cầu bà Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn Sinh thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Đối với bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S , Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay tiếp tục vắng mặt không lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn Sinh nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.

. Về nội dung vụ án:

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Hâ ̣u Giang – Phòng giao dịch Long Mỹ và bà Thị H và ông Nguyễn Văn S có ký kết hợp đồng tín dụng số HDTD803202100635 ký ngày

20/4/2021 và khế ước nhận nợ số 803202100635/01 ký ngày 20/4/2021.

Căn cứ vào hợp đồng thì Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Hâ ̣u Giang – Phòng giao dịch Long Mỹ đã giải ngân cho ông bà Thị H và ông Nguyễn Văn S với số tiền vốn là 50.000.000 đồng. Sau khi nhận nợ thì bà Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn Sinh không thực hiện nghĩa vụ trả lãi cũng như vốn gốc cho Ngân hàng đúng ha ̣n. Do bà Thị H và ông Nguyễn Văn S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu phải trả số tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp theo quy định pháp luật.

. Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng Liên Việt thấy rằng: Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 13%/năm, mức lãi suất này được tự động điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng Liên Việt và phù hợp với quy định pháp luật; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Do bà Thị H và ông Nguyễn Văn S vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu bà Thị H và ông Nguyễn Văn S phải trả lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Bà Thị H và ông Nguyễn Văn S đã vay tiền của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng Liên Việt yêu cầu bà Thị H và ông Nguyễn Văn S trả số tiền vay còn nợ là có căn cứ chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Thị H và ông Nguyễn Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 2.016.089 đồng; Ngân hàng Liên Việt được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQHĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt đối vớ i bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S.

2. Buộc bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S h có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt tổng số tiền vay còn nợ là 40.321.785 đồng. Trong đó nợ gốc là 29.779.932 đồng; tiền lãi trong hạn là 874.497 đồng; tiền lãi quá hạn là 9.667.356 đồng.

3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Thị H và ông Nguyễn Văn S phải chịu là 2.016.089 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.240.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006600 phiếu lâ ̣p ngày 26/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/6/2023). Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ