- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng P - Huỳnh Thị Thu T"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/DS-ST Ngày 18 tháng 8 năm 2023 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh
Ông Huỳnh Tài Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ Phần P .
Trụ sở chính: Số 41 và 45 L, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Thanh G – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP P chi nhánh Bạc Liêu – Phòng giao dịch T. Địa chỉ: B7 – B9, trung tâm thương mại P, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Giấy ủy quyền số 66/2021/UQ-CT.HĐQT ngày 30/6/2021).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H – chức vụ: Trưởng nhóm thu hồi nợ hiện trường, địa chỉ: B7 – B9, trung tâm thương mại Phường 3, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Giấy ủy quyền số 17/2023/UQ-BL ngày 01/3/2023).
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp 15, xã Vĩnh Mỹ B, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp 15, xã Vĩnh Mỹ B, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông Hậu có đơn xin xét xử vắng mặt; bà T, ông M vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần P (sau đây viết tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngày 14/01/2020 Ngân hàng TMCP Sài Gòn P và bà Huỳnh Thị Thu T có ký hợp đồng tín dụng số 0005/2020/PTB/HĐTD, theo đó Ngân hàng đồng ý cho bà T vay số tiền là 150.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng phục vụ đời sống, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay trong hạn: 13,5 %/năm trong 06 tháng đầu, từ tháng thứ 07 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; Bên vay trả lãi định kỳ ngày 05 hàng tháng. Ngày 14/01/2020 Ngân hàng đã giải ngân cho bà T số tiền 150.000.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 18/8/2023 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền theo hợp đồng tín dụng trên là 65.492.909 đồng, trong đó nợ gốc là 58.133.505 đồng; nợ lãi trong hạn là 6.016.078 đồng; nợ lãi quá hạn là 1.343.326 đồng.
Ngày 05/6/2019 Ngân hàng TMCP Sài Gòn P và bà Huỳnh Thị Thu T có ký giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 17/2019/HĐTD- THẺ - TPBL Trần Phú, theo đó Ngân hàng đồng ý cấp cho bà T thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng. Tính đến ngày 18/8/2023 bà T còn nợ Ngân hàng theo giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trên là 13.143.366 đồng, trong đó nợ gốc là 9.688.238 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.455.128 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu bà Huỳnh Thị Thu T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến hết ngày 18/8/2023 với tổng số tiền là 78.636.275 đồng (trong đó nợ gốc là 67.821.743 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.471.206 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.343.326 đồng). Kể từ ngày 19/8/2023 cho đến khi chưa thanh toán dứt điểm khoản vay tại Ngân hàng, bà T còn phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.
* Bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn bà T không đến Tòa án tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn bà T không đến Tòa án tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đối với bà Huỳnh Thị Thu T, buộc bà T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn P số tiền nợ tính đến hết ngày 18/8/2023 với tổng số tiền là 78.636.275 đồng (trong đó nợ gốc là 67.821.743 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.471.206 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.343.326 đồng). Kể từ ngày 19/8/2023 cho đến khi chưa thanh toán dứt điểm khoản vay tại Ngân hàng, bà T còn phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần P khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Thu T trả số tiền nợ vay còn thiếu theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Đây là quan hệ tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Vĩnh Mỹ B, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. do đó, Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ hợp đồng tín dụng số 0005/2020/PTB/HĐTD ngày 14/01/2020, số tiền vay 150.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất cho vay trong hạn là 13,5 %/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Hợp đồng tín dụng trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày nhận nợ đến nay bà T thanh toán không đầy đủ nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Căn cứ giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 17/2019/HĐTD-THẺ - TPBL Trần Phú ngày 05/6/2019 thể hiện Ngân hàng cho bà Huỳnh Thị Thu T cấp thẻ tín dụng (vay tiền) với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng; hình thức vay không có tài sản đảm bảo. Hợp đồng tín dụng trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Huỳnh Thị Thu T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 9.688.238 đồng. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn để giải quyết vụ án nhưng bà T vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.
Xét thấy, bà Huỳnh Thị Thu T đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ vay theo các hợp đồng tín dụng với tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 18/8/2023 là với tổng số tiền là 78.636.275 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 19/8/2023 đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Đối với khoản nợ vay của bà T phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T và ông Nguyễn Văn M: Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với bà T và ông M. Ngân hàng xác định chỉ có bà T đến Ngân hàng ký kết hợp đồng tín dụng và nhận tiền, đồng thời Ngân hàng không có yêu cầu khởi kiện đối với ông M do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ buộc ông Nguyễn Văn M có trách nhiệm cùng trả nợ với bà T.
[4] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí: Ngân hàng không phải chịu án phí. Do bà T phải có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P đối với bà Huỳnh Thị Thu T.
2. Buộc bà Huỳnh Thị Thu T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần P tổng số tiền tính đến hết ngày 18/8/2023 là 78.636.275 đồng.
Kể từ ngày 18/8/2023 bà Huỳnh Thị Thu T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí:
Buộc bà Huỳnh Thị Thu T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.931.813 đồng.
Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải chịu án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần P đã nộp tạm ứng án phí số tiền 1.890.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011476 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
H Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Bạc Liêu;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND huyện H; -CCTHADS huyện H; -Đương sự; -Lưu HS.
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù trong hợp đồng thế chấp chỉ có chữ ký của ông Long và bà Diệu không có chữ ký của thành viên trong hộ ông Long là chị Ly và chị Mai. Tuy nhiên, trước khi ông Long và bà Diệu ký kết hợp đồng thế chấp thì chị Mai và chị Ly đã cùng ký vào biên bản họp thành viên hộ gia đình ngày 10/11/2015, biên bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trạch, huyện H, nội dung biên bản thể hiện chị Ly và chị Mai đồng ý ủy quyền cho ông Long và bà Diệu được toàn quyền thế chấp tài sản hộ gia đình cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long, trong phạm vi ủy quyền ông Long và bà Diệu được ký kết các hợp đồng, văn bản có liên quan đến việc vay vốn, thế chấp theo quy định pháp luật, trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ các thành viên của hộ đồng ý để Ngân hàng được toàn quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận hợp đồng thế chấp…
Theo biên bản lấy lời khai chị Mai xác định không biết việc vay tiền của ông Long và bà Diệu đối với Ngân hàng, chị không có ký tên vào biên bản họp thành viên hộ gia đình ngày 10/11/2015 nên không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp. Quá trình giải quyết vụ án cả chị Mai, Ngân hàng và các đương sự khác trong vụ án đều cương quyết không ai yêu cầu giám định. Căn cứ vào biên bản họp có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trạch đối với các chữ ký của chị Ly và chị Mai là đúng nên không có căn cứ chấp nhận trình bày của chị Mai.
Quá trình giải quyết vụ án chị Ly đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị Ly cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào liên quan đến hợp đồng tín dung và hợp đồng thế chấp này, hơn nữa theo sự thống nhất của ông Toàn, ông Long và bà Diệu sau khi vay tiền ông Long và bà Diệu đưa toàn bộ số tiền vay được cho chị Ly và anh Toàn. Do đó, việc giao dịch vay tiền và thế chấp của ông Long, bà Diệu thì chị Ly đã biết, đến nay chị Ly cũng không có văn bản gì phản đối đối với yêu cầu của Ngân hàng.