vanban.org

Bản án 29/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về xây dựng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C phải thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H số tiền 295.838.000 (hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm ba mươi tám nghìn) đồng. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — ": Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H-Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 113 Luật xây dựng
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/KDTM-ST
Ngày: 30/9/2022.
V/v “Tranh chấp
Hợp đồng thi công”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

Bà Lê Thị Kim Lệ

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 6/2021/TLST-KDTM ngày 01 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng thi công”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 539a/2022/QĐST-KDTM ngày 22 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 618/2022/QĐST-KDTM ngày 14 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H

Địa chỉ trụ sở: Thôn C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định

Địa chỉ liên hệ: 177 Đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Vân L, sinh năm 1977 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ liên hệ: 177 Đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C

Địa chỉ trụ sở: Tầng 6, Cao ốc H2, Số 196 Đường H, phường T, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Đức Ngh, sinh năm 1958 (vắng mặt)

Địa chỉ: 33 (Phòng 35E L2) Đường C, Phường H, Quận B, TP. Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: Phòng 06 Cao ốc H2, 196 Đường H, phường T Quận 4, TP. HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/12/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/9/2017, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển C (sau đây gọi là Công ty C) ký kết hợp đồng thi công số BVBĐ/G.04/TP/10 với Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H (sau đây gọi là Công ty H) và ngày 20/3/2018, Công ty H đã hoàn thành việc thi công và tiến hành nghiệm thu hạng mục công trình đưa vào sử dụng (căn cứ biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình đưa vào sử dụng ngày 20/3/2018). Ngày 15/7/2018, Công ty H đã hoàn thành đầy đủ hồ sơ quyết toán. Ngày 31/10/2019, hai công ty đã cùng xác nhận công nợ thể hiện Công ty C còn phải thanh toán cho Công ty H số tiền 295.838.000 (hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm ba mươi tám nghìn) đồng.

Tuy nhiên, đã quá thời hạn thanh toán quá lâu, Công ty H đã nhiều lần liên hệ yêu cầu Công ty C thanh toán công nợ, nhưng không được. Do đó, Công ty H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty C thanh toán toàn bộ số công nợ cho Công ty H số tiền là 295.838.000 đồng.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp công, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn, để thực hiện việc tham gia tố tụng tại Tòa án, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt, nhưng có văn bản trình bày ý kiến nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Xét việc khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng thi công số BVBĐ/G.04/TP/10 ngày 20/9/2017 giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp Hợp đồng thi công. Bị đơn có trụ sở tại Quận 4, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng khoản Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng những người tham gia tố tụng.

. Về nội dung:

Căn cứ hợp đồng thi công số BVBĐ/G.04/TP/10 ngày 20/9/2017 và biên bản đối chiếu công nợ số 127/TB-PKT ngày 31/10/2019 có đủ cơ sở để xác định Công ty C còn phải thanh toán cho Công ty H số tiền 295.838.000 (hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm ba mươi tám nghìn) đồng. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H buộc bị đơn Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C phải thanh toán số công nợ 295.838.000 (hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm ba mươi tám nghìn) đồng cho nguyên đơn là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là 295.838.000 đồng, tương ứng: 14.791.900 đồng; Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 113, Điều 140, Điều 144 của Luật xây dựng;

- Căn cứ Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C phải thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H số tiền 295.838.000 (hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm ba mươi tám nghìn) đồng.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất C phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 14.791.900đồng (mười bốn triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm đồng).

- Trả lại cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại & Dịch vụ H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.396.000đồng (bảy triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0036168 ngày 18/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ