- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG THỊ LAN-MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 106; 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HSST Ngày 20 tháng 4 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh, ông Nguyễn Quang Vinh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2022/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/HSST-QĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trương Thị L. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Sinh năm 1975. Nơi ĐKHKTT: 308F5, ngõ 190 Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: thôn Đầu Cầu, xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề NG: Tự do. Họ và tên bố: Trương Văn Xuân, sinh năm 1951. Họ và tên mẹ: Đàm Thị Nhuận, sinh năm 1952. Gia đình có 03 chị, em, bản thân là thứ nhất. Họ và tên chồng: Đỗ Văn Ngôn, sinh năm 1972 (đang ly thân). Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2022. Hiện đang tạm giam tại Công an huyện Lạng Giang. Bị cáo L có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Văn NG. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm 2003. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Bãi Sim, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề NG: Tự do. Họ và tên bố: Trần Văn Luyến, sinh năm 1977. Họ và tên mẹ: Lã Thị Thoa, sinh năm 1978. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Bị cáo NG có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Như, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Ngành Bễn, xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
2. Bà Đào Thị Thành, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: phố Vôi, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng:
1. Ông Đỗ Khắc Thành, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Tự Trên, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
2. Ông Trịnh Đức Sơn, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Tự Trên, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 35 phút ngày 02/01/2022, tại nhà nghỉ Sao Mai ở thôn Tự Trên, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang Trần Văn NG, sinh năm 2003 trú tại thôn Bãi Sim, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán cho đối tượng nghiện.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu tại túi quần phía trước bên trái của Trần Văn NG đang mặc có 01 gói giấy màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong gói giấy có 01túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong túi nilon màu trắng này có:
+ 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp.
+ 01 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp.
+ 02 đoạn ống nhựa màu vàng đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng một viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp.
Vật chứng thu giữ nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.
- Thu tại túi quần phía trước bên phải Trần Văn NG đang mặc: 01 thẻ ATM Ngân hàng Viettinbank mang tên “Truong Thi L”; 01 điện thoại Iphone màu trắng.
- Thu giữ 01 xe máy điện, biển kiểm soát 98MĐ5- 109.79. (BL: 35, 36)
Sau khi bị bắt NG khai số ma túy bị thu giữ là của Trương Thị L, sinh năm 1975 đang trú tại thôn Đầu Cầu, xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang đưa cho NG bảo đem đến nhà nghỉ Sao Mai để bán cho khách.
Căn cứ lời khai NG, hồi 16 giờ 50 phút cùng ngày 02/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Thị L, thu giữ:
- Thu ở giường ngủ sát tủ quần áo 01 túi xách giả da có quai xách, trên túi có ghi chữ “BURBERRY”, bên trong túi xách có:
+ 01 hộp nhựa hình chữ nhật kích thước (12,8 x 6,5 x 2,2)cm, trên hộp có nhiều hoa văn họa tiết, nắp hộp có khuy cài màu xanh, bên trong hộp có: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong có: 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây và 01 đoạn ống nhựa màu vàng đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp; 16 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, gồm 08 đoạn ống màu cam, 04 đoạn ống màu hồng, 01 đoạn ống màu vàng, 02 đoạn ống màu xanh lá cây, 01 đoạn màu tím, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp; 09 túi nilon màu trắng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp; 16 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, gồm: 04 đoạn ống màu hồng nhạt, 01 đoạn ống màu đỏ, 01 đoạn ống màu hồng đậm, 02 đoạn ống màu tím, 02 đoạn ống màu xanh dương, 01 đoạn ống màu vàng, 03 đoạn ống màu xanh lá cây, 02 đoạn ống màu cam, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp; 35 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, gồm: 06 đoạn ống màu vàng, 09 đoạn ống màu hồng đậm, 01 đoạn ống màu hồng nhạt, 02 đoạn ống màu xanh dương, 06 đoạn ống màu xanh lá cây, 04 đoạn ống màu tím, 07 đoạn ống màu cam, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng một phần viên nén màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp. Vật chứng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX”.
+ 01 ví giả da màu đen có khóa kéo, bên trong ví có 35.170.000 đồng và 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trương Thị L.
+ 01 điện thoại Iphone màu vàng đồng, ốp nhựa màu trắng- vàng, có số IMEI: 353102103588825.
- Thu ở giá để đồ trong phòng khách nhà L:
+ 01 hộp nhựa màu trắng hình bát giác không có nắp đậy bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu có một đầu hàn kín, một đầu để hở; 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương, 01 đoạn ống nhựa màu đen, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đều được hàn kín một đầu, đầu còn lại cắt vát.
+ 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ không có nắp đậy, trên hộp có chữ “TIRSON”, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu mỗi túi có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh bên trong không đựng gì. (BL: 46, 47)
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn NG không thu giữ tài sản, vật chứng gì. (BL: 42, 43)
Tại Kết luận giám định số 08/KL-KTHS, ngày 05/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
- Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn, màu hồng đỏ đều là ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,528gam.
- Trong 01 hộp hình chữ nhật ký hiệu “KX” niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng, 16 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và các phần viên nén màu hồng đỏ đựng trong 35 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu đều là ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 7,045gam. (BL: 56, 57)
Tại Cơ quan điều tra Trương Thị L và Trần Văn NG khai nhận: Trương Thị L có hộ khẩu tại thành phố Hà Nội, đã ly thân với chồng về nhà Lê Ngọc Anh, sinh năm 1989 ở thôn Đầu Cầu, xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2021. Cuối năm 2022, Lê Ngọc Anh đi chấp hành án về tội phạm ma túy nên Trần Văn NG (là bạn thân của Lê Ngọc Anh) thường xuyên đến nhà L giúp L don dẹp nhà, đưa đón con của L và Ngọc Anh đi học. L khai, buổi tối một ngày đầu tháng 12 năm 2021, L bắt taxi đi từ nhà xuống bến xe khách Bắc Giang gặp một người đàn ông không biết tên và địa chỉ, L hỏi mua 2.500.000 đồng ma túy tổng hợp thì người này đồng ý nhận tiền bà bán cho 01 gói ma túy đá và 30 viên hồng phiến. Sau đó L đem ma túy về nhà chia nhỏ cho vào các đoạn ống nhựa hàn kín và túi nilon nhỏ có rãnh khóa, mục đích để bán cho các đối tượng nghiện lấy tiền chênh lệch. Trưa ngày 02/01/2022, NG đến nhà L chơi và dọn dẹp đồ hộ L. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày có số điện thoại lạ gọi vào điện thoại Iphone của L đặt mua 500.000 đồng ma túy đá và 200.000 đồng ma túy ngựa, bảo L đem ma túy đến nhà nghỉ Sao Mai ở thôn Tự Trên, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang, L đồng ý. Sau đó L lấy 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 02 đoạn ống nhựa màu vàng đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng một viên nén hình tròn màu hồng đỏ đều là ma tuý tổng hợp bọc lại bằng giấy màu trắng và quấn băng dính màu đen bên ngoài đưa cho NG bảo “Cầm năm nước và hai mã lên nhà nghỉ Sao Mai giao cho khách lấy tiền về”. NG hiểu là ma túy L đưa để NG bán cho khách nên đồng ý. Sau đó NG cất gói ma túy L đưa vào túi quần phía trước bên trái điều khiển xe máy điện 98MĐ5-109.79 của L đến nhà nghỉ Sao mai để giao ma tuý cho khách mua. Hồi 14 giờ 35 phút cùng ngày 02/01/2022, khi NG vừa đem ma túy đến nhà nghỉ Sao Mai thì bị Tổ công tác của Công an huyện Lạng Giang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng trên.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Thị L và Trần Văn NG đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không tái phạm.
Bản cáo trạng số 24/KSĐT ngày 21 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Trương Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trần Văn NG về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trương Thị L và Trần Văn NG phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Thị L. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn NG. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xem xét về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Trương Thị L và Trần Văn NG tại phiên tòa đã thừa nhận các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình, cụ thể: Khoảng 14 giờ ngày 02/01/2022, tại nhà ở của Trương Thị L thuộc thôn Đầu Cầu, xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang. Sau khi có khách gọi điện đặt mua 700.000 đồng ma túy, Trương Thị L đã đưa cho Trần Văn NG 01 gói ma túy để NG đi bán cho khách. Hồi 14 giờ 35 phút cùng ngày khi NG đem ma túy đến nhà nghỉ Sao Mai ở thôn Tự Trên, xã Hương Lạc, huyện Lạng Giang thì bị Công an huyện Lạng Giang phát hiện, bắt quả tang thu giữ gói ma túy có khối lượng là 0,528gam ma túy Methamphetamine.
Ngoài ra khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Thị L thu giữ 7,045gam ma túy Methamphetamine, mục đích L tàng trữ để bán lấy tiền. Tổng số ma túy Trương Thị L bán xác định là 7,573gam, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó có đầy đủ cơ sở để khẳng định Trương Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn NG phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây L của một số căn bệnh xã hội. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Khi lượng hình, HĐXX có xem xét tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo.
Đối với bị cáo Trương Thị L dùng tiền của mình mua ma túy về chia nhỏ để bán kiếm lời và đưa ma túy cho NG mang đến nhà nghỉ Sao Mai ở thôn Tự Trên, xã Hương Lạc để bán nên có vai trò chính. Bị cáo Trần Văn NG có vai trò thứ 2 trong vụ án, bởi lẽ: khi được bị cáo L bảo mang ma túy đi bán cho khách thì bị cáo không những không can ngăn mà đồng ý ngay và đã giúp sức tích cực, trực tiếp mang ma túy đi bán.
. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trương Thị L và Trần Văn NG đều có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.
Về Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo NG khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L phạm tội vì mục đích tư lợi và có tài sản nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo NG không có công ăn việc làm, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
. Đối với đối tượng bán ma túy cho Trương Thị L ở bến xe thành phố Bắc Giang và đối tượng gọi điện hỏi mua 700.000 đồng ma túy của L. Quá trình điều tra, L khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
. Về xử lý Vật chứng:
- Đối với 02 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” và “KT” có hình dấu Công an xã Hương Lạc và Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang bên trong là ma túy hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 hộp nhựa màu trắng không có nắp đậy hình bát giác, bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu có một đầu hàn kín, một đầu để hở; 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương, 01 đoạn ống nhựa màu đen, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đều được hàn kín một đầu, một đầu được cắt vát; 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ không có nắp đậy, trên hộp có chữ “TIRSON”, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu mỗi túi có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh bên trong không đựng gì là vật dụng L sử dụng đựng, chia nhỏ ma túy và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe máy điện 98MĐ5- 109.79; 01 điện thoại Iphone vỏ màu vàng đồng của L là tài sản sử dụng làm phương tiện bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 35.170.000 đồng; 01 thẻ ATM; 01 túi xách giả da có chữ “BURBERRY”; 01 ví giả da màu đen và 01 Giấy chứng minh nhân dân của L; 01 điện thoại Iphone vỏ màu trắng của Trần Văn NG là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo L, NG. Nhưng tạm giữ 01 điện thoại của NG; số tiền 5.200.000đ của L để đảm bảo thi hành án.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 106; 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 3, Điều 21; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng điểm i khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Thị L. Xử phạt bị cáo L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/01/2022. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ để xung công quỹ nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn NG. Xử phạt bị cáo NG 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/01/2022. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
[2]. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” và “KT” có hình dấu Công an xã Hương Lạc và Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang bên trong là ma túy hoàn lại sau giám định; 01 hộp nhựa màu trắng không có nắp đậy hình bát giác, bên trong đựng nhiều đoạn ống nhựa nhiều màu có một đầu hàn kín, một đầu để hở; 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương, 01 đoạn ống nhựa màu đen, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đều được hàn kín một đầu, một đầu được cắt vát; 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ không có nắp đậy, trên hộp có chữ “TIRSON”, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu mỗi túi có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh bên trong không đựng gì;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy điện 98MĐ5- 109.79; 01 điện thoại Iphone vỏ màu vàng đồng của L;
- Trả lại cho bị cáo L số tiền 35.170.000 đồng; 01 thẻ ATM; 01 túi xách giả da có chữ “BURBERRY”; 01 ví giả da màu đen và 01 Giấy chứng minh nhân dân; trả lại cho bị cáo NG 01 điện thoại Iphone vỏ màu trắng. Nhưng tạm giữ 01 điện thoại của NG; số tiền 5.200.000đ của L để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
[3]. Án phí: Các bị cáo Trương Thị L và Trần Văn NG mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - THADS huyện Lạng Giang; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Sang |