- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Văn Tám - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cù Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HS-ST Ngày 21-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXX- HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cù Văn T, sinh năm 1975 tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư Thái Học 3, phường Sao Đỏ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 04/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H và có 02 con; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: không ; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24-01-2022; bị tạm giam từ ngày 26-01-2022 tại trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác: Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu dân cư Trại Thượng, phường Văn An, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (người chứng kiến, vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 24-01-2022, Cù Văn T là người nghiện ma túy đi bộ từ nhà ở khu dân cư Thái Học 3 đến khu vực gần Uỷ ban nhân dân phường Sao Đỏ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp và mua 200.000 đồng của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 01 túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh bên trong túi là ma túy đá. T cất túi nilon vào trong túi áo ngực phía trước bên trái rồi thuê xe ôm đến khu vực chợ Văn An thuộc phường Văn An, thành phố Chí Linh. Khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày khi T đang đi bộ đến khu vực đầu đường đi vào khu dân cư Trại Thượng, phường Văn An, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi áo ngực phía trước bên trái của T đang mặc 01 túi nilon màu trắng, viền khoá màu xanh, kích thước (1,5 x 2) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma tuý vừa mua được mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 205/KLGĐ-PC09 ngày 26-01-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilông màu trắng, viền khoá màu xanh niêm phong trong phong bì ghi thu của Cù Văn T gửi đến giám định khối lượng là 0,308gam là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,243g ma tuý loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilông màu trắng viền khoá màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Tại cáo trạng số 37/CT-VKSCL ngày 29-3-2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Cù Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cù Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo Cù Văn T từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24-01-2022; về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số Methamphetamine kèm vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do bị cáo nghiện ma túy nên thực hiện hành vi tàng trữ nhằm mục đích thỏa mãn cơ nghiện, bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Cù Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Hồi 9 giờ 40 phút ngày 24-01-2022, tại đầu đường đi vào khu dân cư Trại Thượng, phường Văn An, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Cù Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép tại túi áo ngực phía trước bên trái 0,308gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chất Methamphetamine thuộc danh mục các chất ma túy bị Nhà nước cấm lưu hành nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo Cù Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội, ăn năn hối lỗi nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng không nhằm mục đích thu lợi nhuận nên xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,243g Methamphetamine, 01 vỏ túi nilông, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định đây là vật cấm tàng trữ và vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Cù Văn T cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên công an thành phố Chí Linh tiếp tục điều tra, có căn cứ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố bị cáo Cù Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Cù Văn T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24-01-2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,243g Methamphetamine, 01 vỏ túi nilong màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín số 205/KLGĐ- PC09 (tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30-03-2022 giữa công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Buộc bị cáo Cù Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cù Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Chí Linh; - Cơ quan CSĐT TP. Chí Linh; - Bộ phận nghiệp vụ công an TP.Chí Linh; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hằng |