vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Minh Th 01 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 7 năm 2021.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Huỳnh Thị Minh Th, Lê Phạm Phương A (người giám hộ), Lê Công Vượng (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4 bên trong là tang vật ma túy thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị Minh Thcòn lại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Minh Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Minh Th 01 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày: 24-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thu Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt Nghề nghiệp: Giáo viên

2. Bà Lê Thị Kim Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60 /2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Minh Th (tên gọi khác: Ty); Giới tính: Nữ; Sinh ngày 25 tháng 03 năm 2005 tại Thành phố H; Nơi đăng ký thường trú: 76/36/8 T, Phường H, Quận P, Thành phố P; Nơi cư trú: 855 T, phường H, Quận V, Thành phố P; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật: Cha không rõ và bà Huỳnh Thị Hiếu T. Hoàn cảnh gia đình: chưa có gia đình.

Tiền sự: Không

Tiền án: Không

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 26/7/2021 “có mặt”.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th: Bà Huỳnh Thị Hiếu Th (mẹ ruột của bị cáo)

Địa chỉ: 76/36/8 Đường T, Phường S, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Minh Th: Luật sư Vũ Anh T – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: 470 Đường P, Phường C, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Chí H, sinh năm 2002

Địa chỉ thường trú: 122/214/29/25 T, Phường M, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú: 277/71A B, Phường H, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 26/7/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Quận 4 cùng với Công an Phường T, Quận 4 tuần tra địa bàn, khi đến trước chung cư R - số 504 Đường N, Phường T, Quận 4 phát hiện Huỳnh Thị Minh Thvà Nguyễn Thị Thu H đang đứng cạnh xe gắn máy hiệu Vario, biển số 59G2-203.70 có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong hộc xe phía trước bên trái có 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu xám và 02 gói chứa tinh thể không màu là ma túy nên thu giữ vật chứng, đưa Th và H về trụ sở Công an Phường 18, Quận 4 để làm rõ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Huỳnh Thị Minh Th.

Theo Kết luận giám định số 426/KLGĐ-H ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận: 05 (Năm) viên nén màu xám thu giữ của Huỳnh Thị Minh Th là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 3,1251 gam, loại MDMA, Ketamine, Diazepam; 02 (Hai) gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Huỳnh Thị Minh Th là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 0,7705 gam, loại Ketamine.

Quá trình điều tra xác định: Do không có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên Th khoảng 16 giờ ngày 26/7/2021, có người đàn ông (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0855512798 gọi điện, nhắn tin cho Th qua số điện thoại 0932365643, hỏi mua 02 chấm ma túy (loại khay) và 05 viên ma túy (loại thuốc lắc). Th báo giá là 1.000.000 đồng/01 chấm ma túy loại khay và 250.000 đồng/01 viên ma túy loại thuốc lắc, tổng số tiền là 3.250.000 đồng, người mua ma túy đồng ý và yêu cầu Th giao ma túy tại chung cư R, Phường T, Quận 4. Sau đó, Th liên hệ với người khác hỏi mua 02 chấm ma túy (loại khay) và 05 viên ma túy (loại thuốc lắc) với giá 800.000 đồng/01 chấm ma túy loại khay và 200.000 đồng/01 viên ma túy loại thuốc lắc. Sau khi liên lạc mua ma túy xong thì Nguyễn Thị Thu H đến phòng Th chơi, Th rủ H đi mua đồ về ăn và điều khiển xe Vario biển số 59G2-203.70 của H chở H đến hẻm 277 B, Phường H, Quận 4 rồi dừng xe và kêu H đứng đợi. Th đi bộ một mình vào hẻm nhận ma túy và cất gói nylon ma túy trong túi quần rồi đi bộ quay lại gặp H và điều khiển xe chở Hiền đi. Trên đường đi, Th lấy gói nylon ma túy bỏ vào hộc xe phía trước bên trái rồi nói dối với H qua chung cư R gặp người anh lấy tiền. Th điều khiển xe chở H đến trước chung cư R, Phường T, Quận 4 đợi người mua ma túy xuống lấy thì bị Công an tuần tra phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Th khai nhận ma túy mua của Lê Văn Chí H1 để bán lại nhưng H không thừa nhận đã bán ma túy cho Th. Xác minh nhật ký cuộc gọi ngày 26/7/2021 không có số điện thoại của Th gọi đến cho H1 như lời Th trình bày. Nguyễn Thị Thu H khai nhận, khi đứng đầu hẻm 277 B giữ xe, H có nhìn thấy Th đi vào trong hẻm gặp H1 nhưng không biết để làm gì. Do chỉ có lời khai của Th, không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xử lý H1 về hành vi bán ma túy cho Th.

Ngoài ra, Th còn khai nhận trước đó đã bán ma túy khoảng 10 lần, nhưng Cơ quan điều tra không xác định được thời gian, địa điểm, không xác định được người mua ma túy, không thu giữ được vật chứng nên không có căn cứ để xác định Th phạm tội nhiều lần. Đối với Nguyễn Thị Thu H không biết và cũng không liên quan đến hành vi mua bán ma túy của Th.

Đối với người đàn ông sử dụng điện thoại số 0855512798 mua ma túy của Th, do không xác định được nhân thân, lai lịch; xác minh số điện thoại không có kết quả nên không có căn cứ để làm rõ xử lý.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Huỳnh Thị Minh Th, Lê Phạm Phương A (người giám hộ), Lê Công Vượng (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4. Bên trong là tang vật ma túy thu giữ của Huỳnh Thị Minh Th còn lại sau giám định.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng của bị can, có gắn sim số 0932365643. Đây là điện thoại bị can sử dụng liên lạc mua bán ma túy.

- 01 xe gắn máy hiệu Vario, biển số 59G2-203.70. Kết quả xác minh, xe trên là của ông Nguyễn Minh H2 đứng tên sở hữu. Ông H2 cho con gái là Nguyễn Thị Thanh H4 mượn sử dụng. Ngày 26/7/2021, H4 cho Nguyễn Thị Thu H mượn đến nhà Th chơi. Th sử dụng xe chở H đi mua bán ma túy nhưng H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4 đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe trên cho ông H2.

- Thu giữ 1.700.000 đồng tiền cá nhân của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th;

- Thu giữ của Lê Văn Chí H1 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, có gắn sim số 0908965285, là điện thoại cá nhân của Học.

Tại Bản cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Huỳnh Thị Minh Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Huỳnh Thị Minh Th thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Huỳnh Thị Minh Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo, thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Minh Th từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Huỳnh Thị Minh Th, Lê Phạm Phương A (người giám hộ), Lê Công Vượng (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4. Bên trong là tang vật ma túy thu giữ của Huỳnh Thị Minh Th còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, sử dụng;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng của bị can, có gắn sim số 0932365643 là điện thoại của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th sử dụng liên lạc mua bán ma túy.

- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị Minh Th 1.700.000 đồng tiền cá nhân của bị cáo Th không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Trả lại cho anh Lê Văn Chí H2 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, có gắn sim số 0908965285, là điện thoại cá nhân của anh H2 không liên quan đến hành vi phạm tội.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận.

Bà Huỳnh Thị Hiếu T là mẹ bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Do bị cáo trẻ người non dạ, bà T không chăm sóc con chu đáo.

Luật sư phát biểu: Không tranh luận về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i, s khoản 1, điểm h khoản 1 Điều 51; Bị cáo có học vấn thấp, bị cáo phạm tội khi chưa thành niên để giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị Minh Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị Minh Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 26/7/2021, tại trước chung cư R – Số 504 Đường N, Phường T, Quận 4, tổ tuần tra Công an Quận 4 phát hiện Huỳnh Thị Minh Th cất giấu 05 (Năm) viên nén màu xám là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 3,1251 gam, loại MDMA, Ketamine, Diazepam và 02 (Hai) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng: 0,7705 gam, loại Ketamine để bán cho người khác thì bị bắt quả tang nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất nguy hiểm của tội phạm cần có mức án tương xứng để xử phạt. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có học vấn thấp, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Huỳnh Thị Minh Th, Lê Phạm Phương A (người giám hộ), Lê Công Vượng (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4. Bên trong là tang vật ma túy thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng của bị can, có gắn sim số 0932365643 là điện thoại của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th sử dụng liên lạc mua bán ma túy là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 1.700.000 đồng tiền cá nhân của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Th.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, có gắn sim số 0908965285, là điện thoại cá nhân của anh Lê Văn Chí H2 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh Học.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Minh Th 01 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 7 năm 2021.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Huỳnh Thị Minh Th, Lê Phạm Phương A (người giám hộ), Lê Công Vượng (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường T, Quận 4 bên trong là tang vật ma túy thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị Minh Thcòn lại sau giám định.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng của bị cáo, có gắn sim số 0932365643 là điện thoại của bị cáo Huỳnh Thị Minh Th.

- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị Minh Th 1.700.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo Th.

- Trả lại cho anh Lê Văn Chí H2 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, có gắn sim số 0908965285, là điện thoại cá nhân của anh H2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 12 năm 2021 Giữa CAQ4 và chi cục thi hành án dân sự Quận 4; Giấy nộp tiền ngày 01 tháng 11 năm 2021 giữa Công an Quận 4 với Kho bạc Nhà nước Quận 4).

Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ