vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả h sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;

Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (điều 107 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? Trả h sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày: 20/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố B.

Bà Nguyễn Thị Kim Chi – Nguyên Phó chủ tịch Chánh văn phòng Thành Ủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân

dân Thành phố B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.B, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 570/2021/HSST ngày 19/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 548/2021/QĐXXST-HS ngày 29/11/2021 và quyết định hoãn phiên tòa 20/2022/HSST-QĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguy n Đ c H.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Sinh năm 1982.

Nơi cư tr : 8B, khu phố 9, phư ng , thành phố B, t nh Đ ng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Lớp 10/12 - Nghề nghiệp: Công nhân.

Họ tên cha: Nguyễn Đ c C - sinh năm 1956 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Kiều Thị Thu N - sinh năm 1958 (Còn sống).

Gia đình có 03 anh em, H là th nhất.

Họ tên v : Tiêu Trọng N – sinh năm 1989. Bị cáo có 02 ngư i con sinh năm 2014 và sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang đư c áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư tr .

* Ngư i bị hại: Anh Hồ Cao L, sinh năm 1990.

HKTT: Thôn 6, xã Q, thị xã H, t nh Nghệ n

(Tại phiên tòa bị cáo có mặt;Bị hại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Nguyễn Đ c H và anh H Cao L sinh năm 1990 ngụ tại thôn 6, xã Q, thị xã H, t nh Nghệ n làm công nhân tại Công ty c phần bao bì B thuộc Khu công nghiệp B, thành phố B, t nh Đ ng Nai. Cả hai đư c phân công làm chung xe nâng vận chuyển giấy.

Khoảng 20 gi ngày 2 -4-2021, tại Công ty c phần bao bì B, trong l c làm việc H đư c t trưởng phân công đến làm việc tại khu vực thành phẩm trong khoảng th i gian 30 ph t nhưng quên không báo cho anh L biết. nh L tưởng nhầm là H b việc nên khi thấy H quay về làm cùng thì anh L có l i nói chửi mắng H dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, thách th c đánh nhau. Lúc này, H đi lại ch làm việc ng i, L lấy 01 thanh g Palet kích thước 1,2m x 01cm x 02cm đi đến ch của H. Thấy vậy, H lấy ghế nhựa H đang ng i đánh L. L dùng thanh g đánh lại H và b chạy. Tiếp đó, H đu i theo và dùng chân đạp L và dùng ghế nhựa đánh L. H giật đư c thanh g trên tay L r i dùng để đánh 01 cái tr ng vào c ng tay phải của anh L gây thương tích. Anh L b chạy, H b khúc g xuống đất. L c này, anh Giang H ng L là t trưởng bộ phận thấy sự việc đánh nhau nên đến giải quyết. Trong l c đang nói chuyện thì L nh t thanh g nêu trên lên và đánh 01 cái tr ng vào vùng thái dương trái của H gây thương tích với t lệ t n thương cơ thể là 03 thì đư c mọi ngư i can ngăn. Anh L đư c đưa đến Bệnh viện Shingmark điều trị.

* Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 552/TgT/20201 ngày 25-6-2021 của Giám định viên – Trung tâm pháp y Sở y tế Đ ng Nai kết luận thương tích và t lệ t n thương của anh H Cao L:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- T n thương gãy xương quay phải ( p dụng Chương , mục V. .1). T lệ 10 .

- Sẹo m m t trước 1/3 giữa c ng tay phải kích thước 08x0,2cm ( p dụng Chương 8, mục .2). T lệ 02 .

2. Kết luận:

- Căn c Thông tư 22/2019/TT-B T ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ tế Quy định t lệ t n thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, t lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên tại th i điểm giám định của nạn nhân H Cao L áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 12 (Mư i hai phần trăm).

3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: vật tày.

* Vật ch ng thu giữ:

- 01 cây g loại thanh g Palet kích thước 01m20 x 01cm x 02cm.

- 01 ghế nhựa màu đ bị gãy.

- 01 USB có ch a video vụ án (lưu giữ tại h sơ vụ án).

- Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đ c H đã b i thư ng cho H Cao L số tiền 15.000.000đ (Mư i lăm triệu đ ng), L đã có đơn bãi nại cho H.

Tại cáo trạng số 584/2021/VKS-HS ngày 18/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Nguyễn Đ c H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trình bày l i luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đ c H m c án từ 14 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.nhưn

L i nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối hận đối với hành vi phạm tội của mình nên mong Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã đư c thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại; ngư i làm ch ng;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 20 gi ngày 2 tháng 4 năm 2021, tại Công ty C phần bao bì B thuộc Khu công nghiệp B, thành phố B, t nh Đ ng Nai, do mâu thuẫn trong l c làm việc nên bị cáo Nguyễn Đ c H và H Cao L xảy ra xô xát đánh nhau. Trong l c đánh nhau, bị cáo H dùng 01 thanh g Palet kích thước 01m20 x 01cm x 02cm đánh một cái tr ng vào c ng tay phải của L gây thương tích với t lệ t n thương cơ thể là 12 . L dùng thanh g nêu trên đánh một cái tr ng vào vùng thái dương trái của bị cáo H gây thương tích với t lệ t n thương cơ thể là 03%. L i khai nhận của các bị cáo phù h p với các tài liệu, ch ng c có tại h sơ vụ án, l i khai bị hại, ngư i làm ch ng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 201 như nội dung bản cáo trạng số 584/CT-VKSBH ngày 18/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đ ng ngư i, đ ng tội và đ ng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến s c kh e của bị hại là khách thể đư c pháp luật bảo vệ. Gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương; xâm phạm đến giá trị đạo đ c nhân văn giữa ngư i với ngư i; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận th c đư c hành vi xâm hại đến s c kh e của ngư i khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vì mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống, bị cáo và bị hại lại lựa chọn phương th c dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo một m c án nghiêm nhằm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, t thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện; Chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo đã b i thư ng khắc phục hậu quả và đư c bị hại bãi nại; Gia đình bị cáo có công với cách mạng (có cha là thương binh, đư c t ng Huy chương kháng chiến hạng nhì); Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (bị cáo là lao động chính trong gia đình, v bị cáo là giáo viên mầm non hiện đang thất nghiệp; có 02 con nh , cháu nh nhất sinh năm 2020) có xác nhận của Ủy ban nhân dân phư ng , TP B; Trong vụ án này: Bản thân bị hại cũng có 1 phần l i, chửi mắng bị cáo và dùng thanh g để đánh nhau là nguyên nhân dẫn đến vụ án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đư c quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Hơn nữa, bị cáo có nơi cư tr rõ ràng, th i gian đư c tại ngoại bị cáo đều chấp hành tốt chủ trương, đư ng lối của Đảng, pháp luật của nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo đư c dưới m c khung hình phạt; hưởng án treo, ấn định th i gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách vừa tạo cơ hội cho bị cáo tự cải tạo bản thân để trở thành công dân tốt, vừa thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã b i thư ng xong cho bị hại, bị hại không có thắc mắc và yêu cầu gì thêm.

[ ] Căn c Điều 4 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu hủy 01 cây g loại thanh g Palet dài 01m20, ngang 01cm x 02cm; 01 ghế nhựa bị gãy.

Đối với H Cao L có hành vi dùng cây g gây thương tích cho bị cáo H với t lệ t n thương cơ thể là 03 . Do bị cáo H đã có đơn r t yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Công an thành phố B đã xử phạt hành chính là phù h p.

Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đ c H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn c điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 201 ; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Tuyên bố bị cáo Nguy n Đ c H phaïm toäi “Cố ý gây thương tích”.

Xöû phaït: Bò caùo Nguyễn Đ c H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Đ c H cho Ủy ban nhân dân phư ng A thành phố B, t nh Đ ng Nai để giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong th i gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 201 : Trong th i gian thử thách, ngư i đư c hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i đư c hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trư ng h p thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngư i đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và t ng h p hình phạt của bản án mới theo quy định.

Theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019: Ngư i đư c hưởng án treo có thể vắng m t tại nơi cư tr nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư tr . Th i gian vắng m t tại nơi cư tr m i lần không quá 60 ngày và t ng số th i gian vắng m t tại nơi cư tr không đư c vư t quá một phần ba th i gian thử thách, trừ trư ng h p bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo ch định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. Ngư i đư c hưởng án treo khi vắng m t tại nơi cư tr phải có đơn xin phép và đư c sự đ ng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội đư c giao giám sát, giáo dục; trư ng h p không đ ng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả l i bằng văn bản và nêu rõ lý do. Ngư i đư c hưởng án treo khi đến nơi cư tr mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm tr , lưu tr ; hết th i hạn tạm tr , lưu tr phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã ho c Công an cấp xã nơi tạm tr , lưu tr . Trư ng h p ngư i đư c hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ngư i đó đến tạm tr , lưu tr phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội đư c giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan. Việc giải quyết trư ng h p ngư i đư c hưởng án treo thay đ i nơi cư tr ho c nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Ngư i đư c hưởng án treo không đư c xuất cảnh trong th i gian thử thách.

Về xử lý vật ch ng: Căn c Điều 4 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây g loại thanh g Palet dài 01m20, ngang 01cm x 02cm; 01 ghế nhựa bị gãy.

- 01 USB có ch a video vụ án (lưu giữ tại h sơ vụ án).

Theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 02/12/2021

Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đ c H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng m t đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đư c tống đạt h p lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án t nh Đ ng Nai (1);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân TP.B (2);

- Công an TP.B (2);

- Thi hành án hình sự ( );

- Bị cáo – BH (4);

- Lưu h sơ vụ án (3).

Nguy n Trần Nhàn TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào h i 10 gi 00 ngày 20 tháng 01 năm 2022;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, t nh Đ ng Nai.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên và bà Nguyễn Thị Kim Chi

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 570/2021/HSST ngày 19/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguy n Đ c Hoàng.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Sinh năm 1982.

Nơi cư tr : 8B, khu phố 9, phư ng n Bình, thành phố Biên Hòa, t nh Đ ng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Lớp 10/12 - Nghề nghiệp: Công nhân.

Họ tên cha: Nguyễn Đ c Cung - sinh năm 1956 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Kiều Thị Thu Ngân - sinh năm 1958 (Còn sống).

Gia đình có 03 anh em, Hoàng là th nhất.

Họ tên v : Tiêu Trọng Nghĩa – sinh năm 1989. Bị can có 02 ngư i con sinh năm 2014 và 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang đư c áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư tr .

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguy n Đ c Hoàng phaïm toäi “Cố ý gây thương tích”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2. Căn c điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 201 ; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

3. Về m c hình phạt:

Xöû phaït: Bò caùo Nguy n Đ c Hoàng 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Th i gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/01/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Đ c Hoàng cho Ủy ban nhân dân phư ng An Bình thành phố Biên Hòa, t nh Đ ng Nai để giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

4. Về các vấn đề khác:

Về xử lý vật ch ng: Căn c Điều 4 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây g loại thanh g Palet dài 01m20, ngang 01cm x 02cm; 01 ghế nhựa bị gãy.

- 01 USB có ch a video vụ án (lưu giữ tại h sơ vụ án).

Theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 02/12/2021

Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Đ c Hoàng phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng m t đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

Nghị án kết th c vào h i 10 gi 30 phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã đư c đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đ ng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Số:11/2018/HSST-QĐ

Biên Hòa, ngày 12 tháng 3 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(4)

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Thị H ng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Chánh và bà Nguyễn Thị Nhạn

Căn c Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn c kết quả việc xét h i, tranh luận tại phiên tòa;

Xét thấy:

- Tại phiên tòa, ngư i bị hại Bùi Quốc Tuấn và ngư i làm ch ng Phạm quốc Cư ng đều khai khi quay lại hiện trư ng để gây án bị cáo không đi một mình mà đi cùng hai ngư i khác trên 1 chiếc xe máy. L i khai này mâu thuẫn với l i khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra. M t khác anh Tuấn và anh Cư ng cũng như bị cáo đều xác định quá trình điều tra chưa đư c đối chất với nhau.

- Chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiên gây án bị cáo khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đã bán. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa làm rõ th i điềm bán, khu vực bán và ngư i mua cũng như khả năng thu h i tài sản này cũng như biện pháp xử lý vật ch ng. Lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa giá bán và giá mua. Có hay không việc bị cáo cố ý tẩu tán tài sản. Do đó, cần trả h sơ để làm rõ.

QUYẾT ĐỊNH:

Trả h sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;

Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.

Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

Để điều tra b sung những vấn đề sau đây:

1. Điều tra xác minh, cho đối chất giữa bị hại, những ngư i làm ch ng và bị cáo nhằm làm rõ trong vụ án có đ ng phạm hay không?

2. Xác minh làm rõ cũng như có biện pháp xử lý cụ thể đối với chiếc xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Cỡ chữ