vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 21/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2022. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày 21 tháng 7 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Tuyên;

Bà Chu Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2022/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Nông Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 10 năm 1997, tại huyện T, tỉnh L. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H1 và bà Chu Thị T (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 07/4/2022 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nông Văn H2, sinh năm 1995, có mặt.

Địa chị: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh L

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Văn K, sinh năm 1999, vắng mặt.

2. Ông Nông Văn T2, sinh năm 1975, vắng mặt.

3. Anh Nông Văn T3, sinh năm 1984, vắng mặt.

4. Anh Lý Thanh T4, sinh năm 1997, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 07/04/2022, tổ công tác cảnh sát Kinh Tế - Ma Túy Công an huyện Tràng Định làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Mậu Đốt, xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang Nông Văn H (sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh L) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ: Tại túi quần phía trước bên phải đối tượng đang mặc có 03 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ số IMEI 867165043210411 lắp 02 sim có số thuê bao là 0345247303 và 0364253246; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 240180017700 mang tên Nông Văn H cấp 04/07/2018; 01 bật lửa màu xanh nhãn hiệu THỐNG NHẤT và số tiền 530.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nông Văn H thừa nhận 03 gói chất bột màu trắng nói trên là chất ma túy Heroine, mục đích để bản thân sử dụng và bán cho những người nghiện khác để kiếm lời.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn H vào hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 ống hút bằng nhựa (một đầu được cắt vát dài khoảng 10cm), 03 mảnh giấy nhỏ có thích thước khác nhau, 01 kéo bằng kim loại, tất cả đều được để dưới giường ngủ của Nông Văn H tại phòng khách; 01 túi nilon trong suốt bên trong đựng chất bột màu trắng thu giữ bên trong con gấu bông ở trên giường của H.

Tại bản kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 09/04/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong 03 gói giấy bạc màu vàng tất cả được niêm phong 01 phong bì thư có chữ tang vật nghi ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nông Văn H ngày 07/04/2022 là chất ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,101 gam (đã trừ bì); Chất bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon trong suốt, được niêm phong 01 phong bì thư có chữ “tang vật khám xét của Nông Văn H ngày 07/04/2022” là chất ma túy Heroine, có khối lượng là 0,650 gam (đã trừ bì).

Tại bản kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 16/04/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam 530.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật.

Tại cơ quan điều tra, Nông Văn H khai nhận: do bản thân nghiện ma túy Heroine, không có nghề nghiệp ổn định nên Huy đã nhiều lần đến khu vực ngã tư máy đèn thuộc khu 3, thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn nhờ một nam thanh niên (không biết họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) mua hộ ma túy Heroine mang về sử dụng và bán lại kiếm lời, cụ thể như sau:

Lần 1: Đầu tháng 03 năm 2022 (không nhớ ngày cụ thể), Nông Văn H đi xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 12T1-059.23 của anh trai Nông Văn H2, trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh L từ nhà ra ngã tư Máy đèn gặp nam thanh niên nói trên nhờ đi mua 01 gói ma túy giá 1.000.000 đồng. Khoảng 01 giờ sau nam thanh niên quay lại đưa cho H 01 gói ma túy Heroine thì H trả 1.000.000 đồng rồi mang về nhà sử dụng và bán lại, cụ thể: Đến chiều hôm sau, tại thôn B, xã T, huyện T cách nhà Nông Văn H khoảng 500m, H bán cho Đinh Văn K 01 gói ma túy Heroine giá 150.000 đồng.

Lần 2: Vào buổi sáng cuối tháng 03 năm 2022, Nông Văn H mượn xe mô tô biển kiểm soát 12T1-059.23 của anh H2 đến ngã tư Máy đèn tiếp tục nhờ nam thanh niên trên mua được 01 gói ma túy Heroine giá 1.200.000 đồng. Số ma túy này, H mang về sử dụng và bán lại, cụ thể: Khoảng 02 ngày sau, tại đường liên thôn Bản Đoỏng, xã Tri Phương hướng đi xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định, cách nhà Nông Văn H 01 km, Huy bán cho Nông Văn T2, 01 gói ma túy Heroine giá 180.000 đồng.

Khoảng đầu tháng 4/2022 Huy bán cho Lý Thanh T4 01 gói ma túy Heroine 200.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 09 giờ ngày 06/04/2022 H tiếp tục mượn xe mô tô biển kiểm soát 12T1-059.23 của anh H2 đến gara sửa chữa ô tô thuộc khu vực thôn Nà Nghiều, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định thì gặp nam thanh niên trên rồi nhờ mua hộ ma túy Heroine và hẹn gặp nhau ở quán nước ngã tư Máy đèn. Khoảng 30 phút sau nam thanh niên quay về và đưa cho H 01 gói ma túy dạng cục và nhận số tiền là 1.000.000 đồng. Mua được ma túy, H mang về nhà để ở đầu giường, sau đó chia một phần thành 05 gói nhỏ, số còn lại để trong túi nilon cất trong gấu bông trên giường với mục đích để bản thân sử dụng và bán kiếm lời. Số ma túy đã chia nhỏ, H đã sử dụng bằng hình thức chích vào tĩnh mạch hết 01 gói, còn lại 04 gói vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/04/2022, tại dốc Lùng Mu thuộc thôn Mậu Đốt, xã Tri Phương, H đã cùng một lúc bán cho Nông Văn T2 và Nông Văn T3 01 gói giá 200.000 đồng. Sau lần bán ma túy này thì H bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang

Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSTĐ ngày 16/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ quá trình, mục đích đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lại để kiếm lời. Đồng thời H cũng thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Đinh Văn K, Nông Văn T2, Lý Thanh T4, Nông Văn T3, nhiều lần để kiếm lời.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Văn H2 là anh trai của bị cáo Huy trình bày: Anh H2 có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 12T1-059.23, anh được cho H chiếc xe mô tô trên đi chơi còn H đi đâu thi anh không biết và H sử dụng chiếc xe vào mục đích gì anh không biết nên chiếc xe không liên quan đến việc phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn H 07 (bẩy) năm đến 08 (tám) năm tù;

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có tài sản có giá trị.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy gồm: Toàn bộ ma túy sau giám định đựng trong 02 phong bì và các vỏ gói; 01 bật lửa ga; 01 ống hút; 03 mảnh giấy; 01 chiếc kéo.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước gồm 01 chiếc điện thoại của bị cáo là phương tiện liên lạc mua ma túy.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo Nông Văn H là tiền bán ma túy có được.

Truy thu số tiền bán ma túy có được 530.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Trả cho bị cáo Nông Văn H 01 giấy phép lái xe hạng A1 và số tiền 330.000 đồng, số tiền này cần tạm giữ để thi hành án.

Trong phần tranh luận:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với Viện Kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt những người làm chứng Đinh Văn K, Nông Văn T2, Nông Văn T3, Lý Thanh T4, Hội đồng xét xử nhận thấy người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi cấu thành tội phạm đối với bị cáo Nông Văn H: Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình được mua ma túy nhiều lần như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận bán ma túy cho Đinh Văn K, Nông Văn T2, Nông Văn T3, Lý Thanh T4 nhiều lần như bản Cáo trạng truy tố, đồng thời hoàn toàn phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cụ thể từ tháng 03 năm 2022 đến ngày 07/4/2022, bị cáo Nông Văn H đã có hành vi bán trái phép chất ma túy Heroine cho các đối tượng nghiện 04 lần: Bán cho Đinh Văn K, Nông Văn T2 và Lý Thanh T4 mỗi người 01 lần; cùng một lúc bán cho Nông Văn T2 và Nông Văn T3 01 lần. Đến ngày 07/4/2022 thì hành vi của bị cáo Nông Văn H đã bị lực lượng Công an huyện Tràng Định phát hiện, bắt quả tang sau đó thu giữ được tổng số 0,751 gam chất ma túy Heroine. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn H bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nông Văn H, là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, góp phần tạo ra những lớp người nghiện, là hiểm họa gây ra các tệ nạn xã hội, đe dọa đến an toàn, trật tự công cộng và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, bị nhà nước cấm mua bán, sử dụng, bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện khác, cho thấy ý thức bị cáo xem thường pháp luật, vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: Tiền án: Không có; tiền sự: Không có; chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kỷ luật; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh tại địa phương bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với nam thanh niên 03 lần bán chất ma túy Heroine cho Nông Văn H tại ngã tư Máy đèn thuộc khu 3, thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định. Xét thấy đây là lời khai một phía của bị cáo H, mặt khác không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của đối tượng này nên không thể điều tra được.

Đối với Đinh Văn K, Nông Văn T2, Nông Văn T3 và Lý Thanh T4 có hành vi mua ma túy với Nông Văn H về sử dụng. Xét thấy hành vi này không cấu thành tội phạm nên Công an huyện Tràng Định đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với K, T2, T3 và T4.

Đối với Nông Văn H2 là anh trai của bị cáo H cho Nông Văn H mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 12T1-059.23. Qua điều tra xác định và tại phiên tòa anh H2 cho bị cáo H mượn xe để đi lại, không biết việc H sử dụng xe vào mục đích bất hợp pháp. Do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy sau giám định đựng trong phong bì bên trong có gói giấy đựng tổng cộng 0,594 gam chất ma túy Heroine và một vỏ gói ni lon; và 01 phong bì niêm phong tang vật thu giữ của Nông Văn H bên trong có 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,086 gam ma túy Heroine và 03 vỏ gói giấy; tiêu hủy 01 bật lửa gas hiệu Thống Nhất màu xanh đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa một đầu được cắt vát; 03 mảnh giấy nhỏ; 01 chiếc kéo bằng kim loại.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước gồm 01 chiếc điện thoại di động của bị cáo Nông Văn H nhãn hiệu Redmi màu đỏ, lắp 02 sim có số thuê bao 0345247303 và 0364253246 đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (là tiền do phạm pháp mà có).

Truy thu số tiền bán ma túy có được 530.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Trả cho bị cáo Nông Văn H, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 240180017700, cấp ngày 04/7/2018 và 330.000 đồng, số tiền này cần tạm giữ để thi hành án

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, đề nghị về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2022.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy sau giám định đựng trong phong bì bên trong có gói giấy đựng tổng cộng 0,594 gam chất ma túy Heroine và một vỏ gói ni lon; và 01 phong bì niêm phong tang vật thu giữ của Nông Văn H bên trong có 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,086 gam ma túy Heroine và 03 vỏ gói giấy; tiêu hủy 01 bật lửa gas hiệu Thống Nhất màu xanh đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa một đầu được cắt vát; 03 mảnh giấy nhỏ; 01 chiếc kéo bằng kim loại.

4.2. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước gồm 01 chiếc điện thoại di động của bị cáo Nông Văn H nhãn hiệu Redmi màu đỏ. số IMEI: 867165043210411, lắp 02 sim có thuê bao 0345247303 và 0364253246 đã qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng nằm trong tổng số tiền 530.000 (năm trăm ba mươi nghìn) đồng bắt quả tang, đựng trong phong bì niêm phong là tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

4.3. Truy thu số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy có được đối với bị cáo Nông Văn H tổng là 530.000 (năm trăm ba mươi nghìn) đồng.

4.4. Trả cho bị cáo Nông Văn H, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 240180017700, cấp ngày 04/7/2018 và số tiền 330.000 (ba trăm ba mươi nghìn) đồng, nằm trong tổng số tiền 530.000 (năm trăm ba mươi nghìn) đồng bắt quả tang, đựng trong phong bì niêm phong là tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam số tiền này cần tạm giữ để thi hành án.

(Chi tiết toàn bộ số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ngày 17/6/2022).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nông Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ