vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Tăng Văn L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2022. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy thu giữ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày: 08 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Sô Tha

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kim Diễn

2. Bà Ngô Thị Oanh Kiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Tăng Văn L, sinh ngày 01/01/1992. Tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp G , xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Văn Th, sinh năm 1971 và bà Trương Thị Đ, sinh năm 1973; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số: 12/2019/HS-ST ngày 17/4/2019; tiền sự: Không; nhân thân: xấu; bị tạm giữ ngày 04/01/2022 đến ngày 07/01/2022 bị khởi tố và bị tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đêm 04/01/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, môi trường Công an huyện Trà Cú tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên một số tuyền đường của huyện Trà Cú. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, tổ tuần tra di chuyển đến Quốc lộ 53, đoạn đường thuộc khóm 3, thị trấn Định An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh thì phát hiện bị cáo Tăng Văn L điều khiển xe mô tô biển số: 59C1 - 897.48, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu cam – đen, đi một mình và có biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra yêu cầu bị cáo L dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bị cáo L cất giấu 01 (một) gói nhựa trong suốt có viền màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt nghi là ma túy, trong túi quần phía trước bên phải. Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong (ký hiệu là A) đối với tang vật thu giữ của bị cáo L.

Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo và thu giữ trong phòng ngủ của bị cáo các đồ vật: 01 (một) chai nhựa nắp màu đỏ có gắn một ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh, bên trong ống thủy tinh có tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (ống thủy tinh đươc niêm phong ký hiệu là B); 01 (một) gói nhựa trong suốt, có viền màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu xanh và 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, đều được hàn kín hai đầu, bên trong có chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (tất cả đươc niêm phong ký hiệu là C).

Bị cáo Tăng Văn L khai nhận: Các đồ vật trên là bộ dụng cụ để bị cáo sử dụng ma túy, cũng như các chất tinh thể màu trắng trong ống thủy tinh, 03 đoạn ống nhựa đều là ma túy của bị cáo tàng trữ, cất giấu trong nhà nhằm mục đích để sử dụng.

Căn cứ vào Bản kết luận giám định số: 02/KLGĐ ngày 07/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Tinh thể chứa trong 01 (một) gói nhựa, được niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4804 gam; Tinh thể chứa trong 01 ống thủy tinh, được niêm phong ký hiệu B gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0557 gam; Tinh thể chứa trong 01 gói nhựa và 03 (ba) đoạn ống nhựa, được niêm phong ký hiệu C gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1590 gam. Tổng khối lượng ma túy, loại Methamphetamine 0,6951 gam. Trong quá trình giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh đã sử dụng 0,1425 gam để giám định, đã hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú khối lượng 0,5526 gam Methamphetamine.

Bị cáo L khai nhận: Vào ngày 03/01/2022, bị cáo có nhờ một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên và địa chỉ đến khu vực khóm 1, thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú mua ma túy dùm với số tiền 1.000.000 đồng, sau khi người đàn ông này mua được ma túy và giao cho bị cáo thì bị cáo cho người đàn ông này 50.000 đồng, bị cáo không biết người đã bán ma túy cho mình là ai. Sau khi có ma túy, bị cáo mang về nhà cất giấu, tối cùng ngày bị cáo có lấy một ít ma túy đổ vào dụng cụ và phần còn lại thì để dành sử dụng. Đến tối ngày 04/01/2022, bị cáo mang theo ma túy để tìm chỗ sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng đã bị công an phát hiện.

Ngày 13/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú đã ra Quyết định tạm giữ của bị cáo các đồ vật, tài liệu gồm: Các tinh thể sau giám định lần lượt có khối lượng 0,4302 gam; 0,1224 gam được để trong các phong bì niêm phong số: 02/MA, 02/MC, cùng ngày 07/01/2022 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh; 01 (một) ống thủy tinh được để trong phong bì niêm phong số: 02/MB, ngày 07/01/2022, với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa nắp màu đỏ, có gắn 01 ống hút màu trắng) và 01(một) xe mô tô biển số: 59C1 - 897.48, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu cam – đen, xe đã qua sử dụng.

Ngày 22/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú đã ra Quyết định trả lại cho ông Tăng Văn Th (cha ruột bị cáo L) 01 xe mô tô biển số: 59C1 - 897.48. Các vật chứng còn lại là các tinh thể sau giám định lần lượt có khối lượng 0,4302 gam; 0,1224 gam được để trong các phong bì niêm phong số: 02/MA, 02/MC, cùng ngày 07/01/2022 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh; 01 (một) ống thủy tinh được để trong phong bì niêm phong số: 02/MB, ngày 07/01/2022, với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa nắp màu đỏ, có gắn 01 ống hút màu trắng) hiện đang được quản lý tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS-HS ngày 21/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú đã truy tố bị cáo Tăng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tăng Văn L khai nhận: Do bị cáo bị nghiện ma túy nên ngày 03/01/2022, bị cáo có nhờ một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên và địa chỉ đến khu vực khóm 1 thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú mua ma túy dùm với số tiền 1.000.000 đồng mang về nhà cất giấu để sử dụng. Đến tối ngày 04/01/2022, bị cáo cất giấu 01 (một) gói nhựa trong suốt có viền màu trắng, được hàn kín để trong túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe trên tuyến Quốc lộ 53, đoạn đường thuộc khóm 3, thị trấn Định An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh để tìm chỗ sử dụng thì bị công an phát hiện, lập biên bản thu giữ, niêm phong. Mục đích bị cáo mua ma túy về sử dụng chứ không nhằm mục đích nào khác.

Quan điểm kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tăng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tăng Văn L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy thu giữ được (sau khi khi giám định) cùng toàn bộ dụng cụ để sử dụng ma túy.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.

Bị cáo Tăng Văn L nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và bị cáo xin hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Tăng Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ; các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa như: biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng đã được niêm phong đúng quy định của của pháp luật có chữ ký của bị cáo. Với các chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 04/01/2022, bị cáo Tăng Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy đá loại Methamphetamine có khối lượng 0,4804 gam bị bắt quả tang. Qua kiểm tra chổ ở ấp G, xã Đ, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Công an phát hiện trong phòng ngủ của bị cáo tàng trữ trái phép 0,2147 gam chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng ma túy mà bị cáo Tăng Văn L đã tàng trữ là 0,6951 gam. Tại phiên tòa bị cáo L khai việc cất giấu số ma túy nói trên là nhằm mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Quá trình kiểm tra chất ma túy ngày 04/01/2022 thì kết quả xét nghiệm bị cáo L dương tính với chất ma túy là phù hợp với lời khai nhận của bị cáo L tàng trữ trái phép 0,6951 gam ma túy là có cơ sở. Hành vi tàng trữ trái phép 0,6951 gam ma túy của bị cáo Tăng Văn L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy.Việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung làm băng hoại đạo đức và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, gây xôn xao dư luận, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tăng Văn L là người có nhân thân xấu, ngày 17/4/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản theo Bản án số: 12/2019/HS-ST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm. Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án như Viện kiểm sát đề nghị, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cho bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, gia đình có người thân có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát đã phân tích và đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nói trên là có căn cứ đúng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Riêng đối với người đàn ông mà bị cáo L nhờ mua dùm ma túy, cũng như người bán (gián tiếp) ma túy cho bị cáo L vào ngày 03/01/2022 tại khu vực khóm 1, thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú. Do bản thân bị cáo L không rõ mặt, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của hai người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú chưa thể xác minh, điều tra làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của họ. Khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy thu giữ được (sau khi khi giám định) cùng toàn bộ dụng cụ để sử dụng trái pháp ma túy.

Đối với 01 xe mô tô biển số: 59C1 - 897.48, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu cam – đen, xe đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Cú đã ra Quyết định trả lại cho ông Tăng Văn Th (cha ruột bị cáo L) xong nên không xem xét, giải quyết.

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Trà Cú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Tăng Văn L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2022.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể có khối lượng 0,4302 gam được để trong phong bì niêm phong số: 02/MA, ghi ngày 07/01/2022, với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh; 01 (một) ống thủy tinh được để trong phong bì niêm phong số: 02/MB, ghi ngày 07/01/2022, với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh; Tinh thể có khối lượng 0,1224 gam được để trong phong bì niêm phong số: 02/MC, ghi ngày 07/01/2022 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Nguyễn Thành Nh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm một chai nhựa nắp màu đỏ có gắn 01 ống hút màu trắng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tăng Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ