vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 04/4/2022. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày 10-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Biền Ngân và ông Tưởng Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Bá Tuấn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 01/11/1993; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: đánh cá biển; trình độ văn hóa: lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T và bà Lý Thị H; có vợ Nguyễn Tuyết A và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: ngày 13/01/2022 bị Công an xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 04/4/2022 được thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh”, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Phạm Hoàng S, sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

+ Anh Phạm Quang T, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

+ Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1980; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Đoàn Thị T; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 23/02/2022, Phạm Hoàng S, Nguyễn Ngọc N, Phạm Văn Q tới nhà anh Phạm Quang T ở cùng thôn chơi. Sau đó T nói với cả nhóm “Làm tý chiều nhậu hè”, được hiểu là đánh bạc nên tất cả đồng ý tham gia. T đi tới vị trí cầu thang lấy 01 bộ bài Tulơkhơ 52 quân rồi cùng Phạm Văn Q, Phạm Hoàng S, Nguyễn Ngọc N ngồi tại vị trí phòng lồi đã trải sẵn chiếu, đánh bài bằng hình thức sô lô (bài tiến lên). Mỗi ván đánh người chơi được chia 13 quân bài, người nào đánh hết bài trên tay trước thì những người còn lại úp bài và phải trả cho người về nhất 20.000 đồng; nếu có người về nhất nhưng những người chưa đánh được quân bài nào trong tổng số 13 quân bài được chia thì xem là bị “cháy bài”, người này phải trả cho người về nhất 80.000 đồng; người về nhất có quân bài cuối cùng là 3 bích thì những người chơi còn lại phải trả cho người về nhất 100.000 đồng; trường hợp người về cuối còn quân bài 2 trên tay sẽ tính là thối 2, người bị chặt tứ quý (04 quân bài giống nhau) đều phải trả cho người thắng số tiền theo thỏa thuận: 2 bích 20.000 đồng, 2 chuồn 40.000 đồng, 2 rô 60.000 đồng, 2 cơ 80.000 đồng. Trường hợp người chơi có 06 đôi, tứ quý 2, tứ quý 3, 3 sam (có 3 quân bài giống nhau), 12 quân bài đen (1 quân bài đỏ) và 12 quân bài đỏ (1 quân bài đen) thì sẽ được tính là tới trắng và những người chơi khác phải trả cho người đó 80.000 đồng. Trường hợp có người tới trắng, người ăn 3 bích thì sẽ xâu 10.000 đồng để mua nước ngọt và thuốc lá phục vụ cho những người tham gia đánh bạc.

Quá trình đánh bạc, Nguyễn Ngọc N sử dụng số tiền 300.000 đồng, Phạm Quang T sử dụng số tiền 740.000 đồng, Phạm Văn Q sử dụng số tiền 1.815.000 đồng, Phạm Hoàng S sử dụng số tiền 1.400.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của các đối tượng trên là 4.255.000 đồng. Do chưa đủ tang số nên Phạm Văn Q, Phạm Hoàng S và Phạm Quang T không phạm tội đánh bạc. Đối với Nguyễn Ngọc N, ngày 13/01/2022 đã bị Công an xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.000.000 đồng, tính đến thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc ngày 23/02/2022 chưa được xóa tiền sự nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép

Vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 4.255.000 đồng; 01 chiếu lác nhựa có hoa văn màu đỏ, vàng, trắng, kích thước 03m x 02m; 01 bộ bài Tulơkhơ, loại 52 quân, mặt ngoài màu đỏ, trắng. Vật chứng trên được chuyển xử lý theo thẩm quyền

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSQT ngày 11 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Đánh bạc”; về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N từ 06 tháng đến 09 tháng tù; về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền là 4.255.000 đồng; tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài Tú lơ khơ, loại 52 quân bài và 01 chiếc chiếu nhựa; về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và hứa sẽ không bao giờ tái phạm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc N đã thừa nhận và thống nhất khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc mà bị cáo đã thực hiện tại nhà của anh Phạm Quang T ở thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 23/02/2022. Sau khi nghe rủ hẹn đánh bạc thì bị cáo đã đồng ý và cùng với anh Phạm Văn Q, anh Phạm Hoàng S và anh Phạm Quang T có hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài sô lô (bài tiến lên). Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.255.000 đồng. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa.

Mặc dù số tiền mà bị cáo cùng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 4.255.000 đồng nhưng do bị cáo đã bị Công an xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 13/01/2022, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc ngày 23/02/2022. Do vậy, hành vi đánh bạc của Nguyễn Ngọc N đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc N đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hại cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm trật tự an toàn và nếp sống văn minh của xã hội. Bị cáo là người có đủ nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép luôn bị xã hội lên án, gây ra nhiều tác hại, hậu quả và hệ lụy nghiêm trọng khác cho xã hội cũng như cho gia đình và chính bản thân bị cáo nhưng vì coi thường pháp luật, muốn thu lợi bất chính nên dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần quyết định một hình phạt tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra. Nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 13/01/2022, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc ngày 23/02/2022. Tuy nhiên, hành vi đánh bạc xử lý hành chính này được xác định là dấu hiệu cấu thành tội phạm. Điều này thể hiện bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật vì vậy cần phải bị xử lý nghiêm với hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã gây ra.

Xét về các tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử

Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tại Trại giam, để có tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo tiến bộ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng của vụ án: Đối với vật chứng thu giữ là số tiền 4.255.000 đồng; 01 bộ bài Tú lơ khơ, loại 52 quân bài; 01 chiếc chiếu nhựa. Xác định, đây là số tiền mà bị cáo cùng các đối tượng đã sử dụng vào việc đánh bạc, là các công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước và tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/3/2022 đến ngày 04/4/2022. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền là 4.255.000 đồng. Số tiền trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tạm giữ, quản lý

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ, loại 52 quân bài; 01 (một) chiếc chiếu nhựa

Vật chứng trên có các đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 20/5/2022.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ