- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Văn T phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thái Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HS-ST Ngày 26-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Út Nhỏ.
2. Bà Trương Kim Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài, Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Thái Văn T, sinh năm 1987; nơi sinh: Gò Quao - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp VH1, xã VHHN, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang; CMND: 371171671, nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn B và bà Phạm Thị S, vợ là Nguyễn Thị Ngọc B1 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 26 ngày 18/4/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao, có mặt.
Người làm chứng:
1/ Bà Thái Thị R (tự: Hai K), sinh năm 1946. Nơi cư trú: ấp 10, xã VHHB, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
2/ Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp 2, xã VHHB, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
3/ Chị Nguyễn Thị Ngọc B1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp VH1, xã VHHN, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 05 phút ngày 27/02/2022 Công an xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc tiến hành bắt quả tang Thái Văn T đang bán số đề cho Nguyễn Thanh D tại quán cà phê của anh Lê Hoàng V1 thuộc ấp 1, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Tại đây lực lượng Công an xã tiến hành kiểm tra và tạm giữ trên người của T số tiền là 4.886.000đ (Bốn triệu tám trăm tám mươi sáu ngàn đồng) và một điện thoại di động hiệu samsung màu đen, số Imei: 353515132386749/01 bên trong có chứa các nội dung liên quan đến hoạt động bán số đề. Công an xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, huyện Gò Quao tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các đồ vật trên và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao xử lý theo quy định.
Trong quá trình điều tra đã xác định được do thấy việc bán số đề có lợi nhuận cao nên Thái Văn T bắt đầu tham gia bán số đề và tự làm thầu đề đến ngày bị bắt (ngày 27/02/2022) được 01 tháng, Thảo tham gia bán số đề ở các đài xổ số địa phương (Miền Nam) và đài Miền Bắc, Thảo bán số đề dưới các hình thức cụ thể như:
* Đài Miền Nam:
- Số đầu, số đuôi tỷ lệ 1 trúng 80, nghĩa là mua 1000đ trúng thì được 80.000đ.
- Lô 2 con mua 1000đ người mua phải trả 13.000đ trúng thì được 70.000đ /lô số trúng.
* Đài Miền Bắc:
- Số đầu mua 1000đ người mua phải trả 4000đ trúng thì được 80.000đ.
- Lô 2 con mua 1000đ người mua phải trả 23.000đ trúng thì được 80.000đ /lô số trúng.
Hàng ngày T ghi bán các số lô, số đề bằng hình thức bán qua điện thoại di động bằng cách người mua điện thoại trực tiếp cho T hoặc bán qua tin nhắn zalo. Trong thời gian bán số đề số tiền thu lợi bất chính cao nhất trong ngày là 300.000đ và thấp nhất là 100.000đ, bình quân là 200.000đ/ngày, con số bán ra cao nhất là 100.000đ và thấp nhất là 2.000đ. Hàng ngày đến khoảng 16 giờ 00 phút Thảo tổng hợp các số lô số đề bán được trong ngày ghi lại vào phơi tổng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao tiến hành cho Thái Văn T đối chiếu phơi và xác định các con số được bán ra Đài Kiên Giang, Tiền Giang và Đà Lạt trong ngày 27/02/2022 cụ thể như sau:
* Đài Kiên Giang:
- Số đầu: Có 09 lượt con số bán ra với số tiền 365.000đ (Ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
- Số đuôi: Có 08 lượt con số bán ra với số tiền là 315.000đ (Ba trăm mười lăm nghìn đồng)
- Lô 2 con số: Có 15 lượt con số được bán ra với tiền là 197.000đ x 13.000đ = 2.561.000đ (Hai triệu năm trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Tổng số tiền bán đài Kiên Giang là: 365.000đ + 315.000đ + 2.561.000đ = 3.241.000đ (Ba triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
* Đài Tiền Giang:
- Số đuôi: Có 01 lượt con số bán ra với số tiền là 10.000đ (Mười nghìn đồng).
- Lô 2 con: Có 06 lượt con số được bán ra với tiền là 80.000đ x 13.000đ = 1.040.000đ (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tổng số tiền bán đài Tiền Giang là: 10.000đ + 1.040.000đ = 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
* Đài Đà Lạt:
- Số đầu: có 05 lượt con số bán ra với số tiền 25.000đ (Hai mươi lăm nghìn đồng).
- Số đuôi: có 05 lượt con số bán ra với số tiền là 25.000đ (Hai mươi lăm nghìn đồng).
- Lô 2 con số: có 10 lượt con số được bán ra với tiền là 90.000đ x 13.000đ = 1.170.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng).
Tổng số tiền bán đài Đà Lạt là: 25.000đ + 25.000đ + 1.170.000đ = 1.220.000đ (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).
Như vậy tổng số tiền bán số đề thu được cả ba đài Kiên Giang, Tiền Giang và Đà Lạt trong ngày 27/02/2022 là: 3.241.000đ + 1.050.000đ + 1.220.000đ = 5.511.000đ (Năm triệu năm trăm mười một nghìn đồng).
Trong ngày 27/02/2022 những người tham gia mua số do Thái Văn T bán gồm: Bà Thái Thị R, anh Nguyễn Thanh D và chị Nguyễn Thị Ngọc B1.
Tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ: Một điện thoại di động hiệu samsung màu đen, số Imei1: 353515132386749/01 bên trong có chứa các nội dung liên quan đến hoạt động bán số đề và tiền Việt Nam 4.886.000đ (Bốn triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra Thái Văn T đã nộp số tiền bán số đề trong ngày 27/02/2022 với số tiền 4.661.000 đồng (bán số đề cho Nguyễn Thanh D với số tiền 850.000 đồng).
Trong quá trình điều tra xác định số tiền không liên quan đến hành vi mua bán số đề nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành trao trả theo quy định của pháp luật cho Thái Văn T số tiền 3.936.000đ (Ba triệu chín trăm ba mươi sáu ngàn đồng); trả cho anh Nguyễn Thanh D số tiền 100.000đ (Một trăm ngàn đồng).
Vật chứng: Một điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei1: 353515132386749/01 hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao; Tiền Việt Nam đồng là 5.511.000đ liên quan đến việc đánh bạc do bị cáo nộp trả lại, hiện đang gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao theo giấy nộp tiền ngày 12/5/2022.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSND-GQ, ngày 02/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố bị cáo Thái Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Thái Văn T hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Gò Quao tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm: Một điện thoại di động hiệu samsung màu đen, số Imei1: 353515132386749/01; Tiền Thái Văn Thảo bán số đề trong ngày 27/02/2022 với số tiền 5.511.000đ (Năm triệu năm trăm mười một ngàn đồng) và buộc bị cáo phải nộp lại tiền thu lợi trong 01 tháng do bị cáo làm thầu với số tiền là 200.000đ x 30 ngày = 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người làm chứng bà Thái Thị R, anh Nguyễn Thanh D, chị Nguyễn Thị Ngọc B1 có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt những người này nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản làm việc, lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 15 giờ 05 phút ngày 27/02/2022 tại quán cà phê anh Lê Văn V1 thuộc ấp 1, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, Thái Văn T bán số đề cho Nguyễn Thanh D với số tiền 850.000đ; số tiền đánh bạc mà bị cáo T bị bắt trong ngày 27/02/2022 là 5.511.000đ (trong đó: bán đề cho Nguyễn Thanh D 850.000đ, Thái Thị R 3.855.000đ và Nguyễn Thị Ngọc B1 806.000đ). Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thể hiện như sau: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì không những đã gây mất an ninh, trật tự tại địa phương mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ và mục đích tư lợi nhằm có thu nhập bất chính, với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm đủ sức răn đe và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tài liệu thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra bị cáo còn có cha là ông Thái Văn B là thương binh 3/4 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi của Thái Thị R, Nguyễn Thanh D và Nguyễn Thị Ngọc B1 mua số đề do bị cáo Thái Văn T bán ra, hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.
Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
- Một điện thoại di động hiệu samsung màu đen, số Imei1: 353515132386749/01 là phương tiện bị cáo dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;
- Số tiền 5.511.000đ là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Thái Văn T nộp lại, theo giấy nộp tiền ngày 12/5/2022, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Buộc bị cáo Thái Văn T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 6.000.000 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Thái Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Thái Văn T hình phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước Số tiền 5.511.000đ là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Thái Văn T nộp lại, theo giấy nộp tiền ngày 12/5/2022.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm: Một điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số Imei1: 353515132386749/01 của Thái Văn T.
- Buộc bị cáo Thái Văn T phải nộp lại 6.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Thái Văn T nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện KSND huyện Gò Quao; - Công an tỉnh Kiên Giang (PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THADS huyện Gò Quao; - Bị cáo; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn |