vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 02/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-Bản án số: 29/2022/HS-ST
- Ngày: 02/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài;

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Thanh Phong

2. Ông Nguyễn Văn Vẹn

* Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Kim Cương Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: ông Dương Văn Nguyện kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/HSST - QĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

HUỲNH PHƯƠNG A, sinh ngày 02/8/1989. Số chứng minh nhân dân 312024056 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 22.02.2019. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: không. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Con ông Huỳnh Văn A1 và bà Trần Thị A2. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình, chưa có vợ, con. Tiền sự: không. Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2021 đến ngày 19/9/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 28/01/2022 bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã, chuyển tạm giam từ ngày 31/01/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chợ Gạo và có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo: Huỳnh Văn A1, sinh năm 1956. (có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Thị B - Văn phòng luật sư Hồ Thị B thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Tấn C, sinh năm 1994. (có mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 16/9/2021, tại ấp An Thị, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Gang lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Chợ Gạo kết hợp Công an xã N tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Huỳnh Phương A điều khiển xe mô tô biển số 63B9-416.29 đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần phía trước bên phải mà A đang mặc trên người.

Qua điều tra, A khai nhận: khoảng 12 giờ ngày 16/9/2021, A gọi điện thoại cho người bán ma túy (không rõ họ, tên, địa chỉ) để mua một bịch ma túy với giá 200.000 đồng, người bán ma túy hẹn gặp A tại cổng chùa Phước Long thuộc ấp Hòa Phú, xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. A điều khiển xe mô tô biển số 63B9-416.29 từ nhà đến cổng chùa Phước Long đứng chờ khoảng 10 phút thì người bán ma túy đến, A trực tiếp mua bịch ma túy và trả tiền. Sau khi mua được ma túy, A cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người và quay xe về. Khi đến chốt phòng, chống dịch tại ấp An Thị, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Mục đích Tân mua ma túy về là để sử dụng.

Theo kết luận giám định số 207/KLGĐ-PC09 ngày 18/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể trong suốt trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một gói giấy màu trắng dạng bì thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Phương A, Phạm Trí Dũng và Võ Tuấn Kiệt gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0.1185 gam, loại Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 106/KL-VPYTW ngày 08/3/2022 của Viện Pháp Y Tâm Thần Trung Ương Biên Hòa kết luận về năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo Huỳnh Phương A trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” xảy ra tại ấp An Thị, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang ngày 16/9/2021 như sau:

- Về y học:

+ Trước, trong và sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid giai đoạn thuyên giảm không hoàn toàn (F20.04-ICD.10)

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi;

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSCG ngày 26/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Huỳnh Phương A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Chợ Gạo giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phương A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm q, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Phương A từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Và đề nghị xử lý vật chứng như sau:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ký hiệu số 27 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 207/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 9 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu và chữ ký họ tên Võ Tuấn Kiệt (bên nhận).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen.

Trả lại cho ông Huỳnh Văn A1 01 điện thoại di động cảm ứng Oppo AS2020 màu trắng đen.

Trả lại cho anh Huỳnh Tấn C 01 xe mô tô biển số 63B9-416.29.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Quyết định tạm giữ, Lệnh tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, mở niêm phong lấy mẫu giám định, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị can, bị cáo được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo luật sư Hồ Thị B có đơn xin vắng mặt. Nhận thấy việc vắng mặt người bào chữa không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo và đại diện bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử vắng mặt người bào chữa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.

Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Bị cáo nghiện ma túy từ đầu năm 2021. Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 16/9/2021, tại ấp An Thị, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Gang, Huỳnh Phương A bị bắt quả tang khi đang cất giấu 01 bịch ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1185 gam nhằm mục đích để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy ... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, bị cáo đã thành niên, nhận thức được chất ma túy là mối hiểm họa cho cộng đồng và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo cất giấu 01 bịch ma túy để sử dụng qua giám định có khối lượng 0,1185 gam, loại Methamphetamine là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong khi lúc phạm tội, bị cáo chỉ là người hạn chế năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo. Hơn nữa thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là thời điểm địa phương thực hiện giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh Covid-19 nhưng bị cáo vẫn tìm cách đi qua các chốt kiểm soát để mua ma túy về tàng trữ nhằm sử dụng cho thấy tình trạng nghiện của bị cáo là nghiêm trọng nên xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho mọi người.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, đồng phạm:

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điểm phạm tội, bị cáo bị hạn chế năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng có tiền án. Ngày 22/01/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

+ Đồng phạm: Trong vụ án không có đồng phạm.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho A do A không biết họ tên, địa chỉ cụ thể và lực lượng chức năng kiểm tra nhật ký điện thoại liên lạc giữa bị cáo với đối tượng bán ma túy cho A không còn nên không tiến hành xác minh làm rõ được, sau này điều tra làm rõ được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, bị cáo đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong ký hiệu số 27 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 207/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 9 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu và chữ ký họ tên Võ Tuấn Kiệt (bên nhận). Đây là chất ma túy còn lại sau khi giám định nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng Oppo AS2020 màu trắng đen, đây là điện thoại của mẹ bị cáo, mẹ bị cáo chết, điện thoại để trên bàn thờ, bị cáo tự ý lấy sử dụng và không liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa, ông A1 có yêu cầu nhận lại, bị cáo cũng đồng ý giao trả lại cho ông A1 nên Hội đồng xét xử quyết định trả điện thoại lại cho ông Huỳnh Văn A1.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô biển số 63B9-416.29. Đây là xe do anh Huỳnh Tấn C là em của bị cáo mua của người khác để sử dụng, chưa sang tên. Bị cáo tự ý lấy xe đi mua ma túy, anh C không biết. Do đó, Hội đồng xét xử đồng ý trả lại xe cho anh C.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, về mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

+ Về xử lý vật chứng, Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bào chữa vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo có đơn xin vắng mặt nhưng có gửi bài bào chữa trong đó nêu nhiều luận cứ bào chữa cho bị cáo, cụ thể: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết gỉam nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; căn cứ vào Kết luận giám định số 106/KL-VPYTW ngày 08/3/2022 của Viện Pháp Y Tâm Thần Trung Ương Biên Hòa kết luận về năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo Huỳnh Phương A tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bị cáo bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid giai đoạn thuyên giảm không hoàn toàn (F20.04-ICD.10) đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết gỉam nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; về nhân thân bị cáo mặc dù ngày 22/01/2008, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo đã chấp hành xong và được xóa án tích, bị cáo không có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định hình phạt 02 năm tù, cho hưởng án treo, tạo cơ hội cho bị cáo được chăm sóc, điều trị bệnh và tạo điều kiện cho bị cáo tự nhận thức lỗi lầm và tự giáo dục, cải tạo mình. Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, riêng đề nghị về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là không đúng quy định của pháp luật về án treo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phương A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm q, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

* Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2022 trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2021 đến ngày 19/9/2021.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ký hiệu số 27 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 207/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 9 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu và chữ ký họ tên Võ Tuấn Kiệt (bên nhận).

Trả lại cho ông Huỳnh Văn A1 điện thoại di động cảm ứng Oppo AS2020 màu trắng đen.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen.

Trả lại cho anh Huỳnh Tấn C 01 xe mô tô biển số 63B9-416.29.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Phương A phải chịu 200.000 đồng.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bào chữa vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ