- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đ-E"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 51, 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST Ngày 06/6/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thanh Tâm;
2. Ông Đinh Văn Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 511/2021/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương D, sinh năm: 1989.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn Hùng E, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu phố PM, phường XL, thành phố LK, tỉnh ĐN.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 12/12/2021, bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương D trình bày:
Vào năm 2014, chị và anh Hùng E tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XL, thị xã K (nay là phường XL, thành phố LK), tỉnh ĐN. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, cuộc sống không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, anh Hùng E không lo làm ăn thường xuyên ghen tuông và đánh đập chị nhiều lần. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị được yêu cầu ly hôn với anh Hùng E.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Quốc A, sinh ngày 20/01/2019. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu Quốc Anh và không yêu cầu anh Hùng E cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2021, bị đơn anh Ngô Văn Hùng E trình bày:
Anh thống nhất như lời trình bày của chị D về thời gian kết hôn, mâu thuẩn của vợ chồng, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vơ, muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Trường hợp ly hôn, anh đồng ý giao cháu Quốc A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự và về ý kiến giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương D. Chị Nguyễn Thị Phương D được ly hôn với anh Ngô Văn Hùng E. Giao cháu Ngô Quốc A, sinh ngày 20/01/2019 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Hùng E không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận và về nợ chung: Không có, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Phương D khởi kiện ly hôn với anh Ngô Văn Hùng E. Anh Hùng Em có nơi cư trú tại khu phố PM, phường XL, thành phố LK, tỉnh ĐN. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
[2] Về tố tụng: Bị đơn anh Ngô Văn Hùng E vắng mặt tại phiên tòa ngày 13/5/2022, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Do đó, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyết định hoãn phiên tòa có thông báo thời gian mở lại phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho các đương sự, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Nguyễn Thị Phương D là nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1,3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Hùng E được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, anh Hùng E không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên ghen tuông, có hành vi bạo lực và sỉ nhục chị D. Tháng 01/2021, chị D có nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó rút đơn về tạo điều kiện cho anh Hùng E có cơ hội sửa đổi để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh Hùng E vẫn không thay đổi, mâu thuẩn lại tiếp tục xảy ra nên chị D khởi kiện yêu cầu ly hôn. Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ nhưng không có kết quả, bản thân anh Hùng E muốn đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn gia đình. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Quốc A sinh ngày 20/01/2019, anh Hùng E và chị D thống nhất giao cháu Quốc A cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị D không yêu cầu nên không xem xét. Tạm thời anh Hùng E không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị D, anh Hùng E khai không có nên không xem xét.
Về án phí: Chị D phải chịu á n phi dân sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của
́
pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy đi ̣nh về mứ c thu , miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương D. Chị Nguyễn Thị Phương D được ly hôn với anh Ngô Văn Hùng E.
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Quốc A, sinh ngày 20/01/2019 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Hùng E không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hùng E có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị D và anh Hùng E khai không có nên không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương D phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0005259 ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh. Chị D đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP. Long Khánh; - Chi cục THADS TP. Long Khánh; - UBND xã Xuân Lập, TP Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; - Đương sự; - Lưu hồ sơ . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Anh Kiệt |