vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị L đƣợc ly hôn anh Phùng Văn T.

Về con chung: Giao cho chị Phan Thị L nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Phùng Phƣơng N, sinh ngày 13/6/2007 và Phùng Duy H, sinh ngày 04/7/2009 cho đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi), (hiện con chung đang ở cùng chị Phan Thị L). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Ly hôn giữa chị Phan Thị Lý và anh Phùng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị L đƣợc ly hôn anh Phùng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05-9-2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Vũ Thị Bền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số 182/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số22A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15tháng8năm 2022giữacácđƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1982.

Nơi ĐKHKTT: thôn An T, xã Quang T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nơi ở hiện nay: thôn Tƣ Â, xã Sơn T, huyện Nho Q, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1983

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn An T, xã Quang T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng

Các đƣơng sự đều vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Phùng Văn T đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Trung vào ngày 24/11/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng bố mẹ anh T tại thôn An T, xã Quang T, huyện Tứ K hạnh phúc đƣợc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không tu chí làm ăn, suốt ngày rƣợu chè về đánh đập chị và chửi bới các con, mặc dù chị đã nhiều lần nói chuyện nhƣng anh T không có sự thay đổi nên năm 2012 chị cùng các con về sinh sống tại nhà riêng của chị tại thôn Tƣ Â, xã Sơn T, huyện Nho Q, tỉnh Ninh Bình. Thời gian chị sinh sống tại Ninh Bình, anh T không quan tâm hỏi thăm chị và các con, giữa anh chị không còn liên lạc gì với nhau trong 10 năm nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên đề nghị TAND huyện Tứ Kỳ giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T.

+ Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh T có 02 con chung là Phùng Phƣơng N, sinh ngày 13/6/2007 và Phùng Duy H, sinh ngày 04/7/2009, hiện các con đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con vì 10 năm nay anh T không quan tâm, hỏi thăm các con và không có trách nhiệm gì trong việc nuôi dƣỡng các con.

Hiện chị L đang làm việc tại công ty OJITEC có địa chỉ tại khu công nghiệp Đồng Văn, tỉnh Hà Nam với mức lƣơng 14 -15 triệu đồng/ tháng, thời gian làm việc theo ca có hôm làm từ 6h sáng đến 14 giờ chiều, có hôm thì làm từ 14 giờ đến 22 giờ, tuy nhiên chị hoàn toàn chủ động về mặt thời gian và mặc dù chị có nhà ở riêng nhƣng nhà bố mẹ chị ở sát cạnh nhà chị nên trong những lúc chị đi làm thì bố mẹ chị hỗ trợ trong việc chăm sóc các con.

Cháu Phùng Phƣơng N và Phùng Duy H tại đơn đề nghị gửi tòa án thể hiện nguyện vọng khi bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Phùng Văn T trình bày:

Anh T xác định lời trình bày của chị L về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ chị L trình bày là đúng, về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, không có tiếng nói chung, thƣờng xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2012 chị L tự ý đƣa các con bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh đã nhiều lần đến đón mẹ con chị L về nhƣng chị L không về nên từ đó vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh thì anh đồng ý ly hôn chị L

+ Về con chung: Anh T xác định lời trình bày của chị L về số lƣợng con chung, tên tuổi, ngày tháng năm sinh của các con chung là đúng. Hiện các con chung đang ở cùng chị L, khi vợ chồng ly hôn các con chung muốn ở với ai thì là quyền của các con, nếu các con muốn ở với chị L thì anh cũng đồng ý, nếu các con ở với anh thì anh không yêu cầu chị L phải cấp dƣỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, chị L và anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L, xử cho chị Phan Thị L đƣợc ly hôn anh Phùng Văn T; Về con chung: giao cháu Phùng Phƣơng N, sinh ngày 13/6/2007 và Phùng Duy H sinh ngày 04/7/2009 cho chị L trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị L, anh T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Phan Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị và anh Phùng Văn T, tại thời điểm thụ L vụ án anh T sinh sống tại thôn An T, xã Quang T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Do đó TAND huyện Tứ Kỳ thụ L để giải quyết là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[1.2] Chị Phan Thị L và anh Phùng Văn T sau khi nhận đƣợc Quyết định đƣa vụ án ra xét xử đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt chị L, anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Phùng Văn T đƣợc tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 24/01/2006 tại UBND xã Quang Trung huyện Tứ Kỳ nên đƣợc công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp nhau về tính cách, không có tiếng nói chung, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau và thực tế đã sống ly thân 10 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T, anh T đồng ý ly hôn chị L. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị L đƣợc ly hôn anh T là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị L và anh T có có 02 con chung là Phùng Phƣơng N, sinh ngày 13/6/2007 và Phùng Duy H, sinh ngày 04/7/2009, hiện các con đang ở cùng chị L. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con, anh T có quan điểm nếu các con có nguyện vọng đƣợc ở với chị L thì anh cũng đồng ý để chị L nuôi các con. Xét thấy chị L và anh T sống ly thân đã hơn 10 năm nay, trong thời gian sống ly thân thì chị L là ngƣời trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Nam và cháu Hải, chị L có công việc thu nhập ổn định, có nhà cửa và bố mẹ hỗ trợ trong việc nuôi dƣỡng các con, bên cạnh đó các con có nguyện vọng đƣợc ở cùng mẹ nên để các con có đƣợc sự ổn định trong cuộc sống cũng nhƣ có đƣợc sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cần giao cho chị L tiếp tục nuôi dƣỡng các con chung và chấp nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ: Chị L và anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.

Về án phí: Chị Phan Thị L khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị L đƣợc ly hôn anh Phùng Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Phan Thị L nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Phùng Phƣơng N, sinh ngày 13/6/2007 và Phùng Duy H, sinh ngày 04/7/2009 cho đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi), (hiện con chung đang ở cùng chị Phan Thị L). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con.

Anh Phùng Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000666 ngày 21/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chị L đã nộp đủ

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai , báo cho chị Phan Thị L và anh Phùng Văn T biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ