- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơnkhởi kiện của chị Hoàng Thị H. Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH T HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/ HNGĐ- ST Ngày: 28/4/2022 V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH T HÓA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan – Thẩm phán
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thủy và ông Nguyễn Mạnh H
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh T Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh T Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 275/2021/TLST – HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2021, về việc: về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXX – ST ngày 05 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm: 1988
Nơi ĐKNKTT: Số nhà 149, phố L, thị trấn T, huyện Triệu Sơn,tỉnh T Hóa.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 3, xã Hợp T, huyện Triệu Sơn, tỉnh T Hóa. Vắng mặt
Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm: 1986
Nơi ĐKNKTT: Số nhà 149, phố L , thị trấn T, huyện Triệu Sơn, tỉnh T Hóa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 05/9/2021, bản tự khai, lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
- Hôn nhân: Chị H và anh Dương Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn cấp ngày 02/01/2009.
Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nên đã có hai con chung, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường xuyên chơi bời vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử nhiều lần, vì thương các con nên chị H vẫn cố gắng chung sống mong anh T sẽ thay đổi, tu trí làm ăn những anh T vẫn không thay đổi, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sống hơn một năm nay, không quan tâm đến nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo.
Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Hoàng Thùy L, sinh ngày 10/11/2009 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 15/8/2011. Hiện nay 2 cháu đang sống cùng chị H, điều kiện học tập, sinh hoạt và sức khỏe đều tốt. Cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ.
Nay ly hôn nguyện vọng của chị H là được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.000.000đ/1 tháng.
Hiện tại chị H có nơi ăn ở ổn định, có nhà đất dưới thành phố T Hóa và đang kinh doanh nhà trọ, thu nhập mỗi tháng 12.000.000đ nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cả 2 con chung.
- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, bị đơn anh Dương Văn T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn như chị H trình bày là đúng. Quá trình vợ chồng chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung.
Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh không muốn vợ chồng ly hôn nhưng nếu chị H vẫn cương xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị H trình bày là đúng. Nay anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện tại anh đang kinh doanh sửa chữa ô tô, thu nhập bình quân mỗi tháng 10.000.000đ
- Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
- Về tố tụng:
Quá trình nhận hồ sơ, thụ lý vụ án và giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành và tuân thủ theo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo các quy định của luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử.
Hôn nhân: Căn cứ Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn T
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Hoàng Thùy L, sinh ngày 10/11/2009 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 15/8/2011
Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu 1.000.000đ/ 1tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Dương Văn T và chị Hoàng Thị H theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, anh T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt
Căn cứ vào khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân:
Chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn cấp ngày 02/01/2009. Nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nên đã có hai con chung, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, trong cuộc sống không tìm được tiếng nói chung, anh T không chịu tu trí làm ăn mà thường xuyên vi phạm pháp luật bị Tòa án đưa ra xét xử nhiều lần, từ đó mâu thuẫn vợ chồng kéo dài dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sống hơn một năm nay, không quan tâm đến nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh T mong muốn vợ chồng về đoàn tụ, nếu chị H vẫn cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn giữa chị H và anh T là hoàn toàn tự nguyện, nên căn cứ vào Điều 55 luật hôn nhân gia đình xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn T.
Về con chung:
Vợ chồng có 02 con chung là cháu Dương Hoàng Thùy L, sinh ngày 10/11/2009 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 15/8/2011. Cả anh T và chị H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Đây là nguyện vọng chính đáng , tuy nhiên việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần xem xét đầy đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, môi trường sống để các cháu phát triển tốt nhất.
Xét thấy:
Hiện tại anh Dương Văn T đang bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn đang chuẩn bị xét xử. Bản thân anh T đang vi phạm pháp luật, nếu giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo được điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng các cháu một cách toàn diện.
Về điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị H: Tại biên bản xác minh ngày 18 tháng 3 năm 2022, đại diện chính quyền địa phương cho biết: Hơn một năm nay chị H và hai con về nhà bố mẹ đẻ ở xóm 3, xã Hợp TH sinh sống, sức khỏe, điều kiện sinh hoạt của các cháu đều tốt.
Hiện nay chị H có thu nhập, có nơi ăn ở ổn định, để không làm sáo trộn cuộc sống và học tập của các cháu, đáp ứng theo nguyện vọng của hai cháu nên giao cả hai cháu L và H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu 1.000.000đ một tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản:
Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228 , Điều 271, Điều 273 BLTTDS; Điều 55, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơnkhởi kiện của chị Hoàng Thị H. Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Dương Hoàng Thùy L, sinh ngày 10/11/2009 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 15/8/2011 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Dương Văn T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu 1.000.000đ /1 tháng. Kể từ tháng 5 năm 2022 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Anh Dương Văn T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng là 300.000đ tại biên lai số 0006279 ngày 11/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn. Anh Dương Văn T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn , bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : - Tòa án tỉnh; - VKS Triệu Sơn; - C.cục thi hành án DS Triệu Sơn; - UBND thị trấn T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vu án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Lª Thị Lan |