vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T được ly hôn anh Phạm Huy T. Về con chung: Chị T và anh T không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn T-T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nhòng,

Ông Phạm Văn Tiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022 (Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022), giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 19xx, nơi cư trú: Khu xxx, phường H, thành phố M, tỉnh Q, vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Phạm Huy T, sinh năm 19xx, nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn (chị Đặng Thị T) trình bày: Chị và anh Phạm Huy T tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 22 tháng 11 năm 2011. Trong thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Năm 2015, do mâu thuẫn căng thẳng, anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, chị T yêu cầu được ly hôn anh T. Anh chị không có con chung và không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Phạm Huy T; yêu cầu anh T giao nộp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh T không thực hiện.

Xác minh tại gia đình, bố đẻ anh T là ông Phạm Huy Ô cung cấp: Anh T và chị T xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân từ khoảng năm 2015 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Anh T đã biết việc chị T xin ly hôn và có quan điểm đồng ý ly hôn vì vợ chồng đã ly thân thời gian dài, không thể đoàn tụ. Tuy nhiên do anh T bận đi làm nên không đến làm việc theo yêu cầu của Toà án. Anh T và chị T không có con chung, không có tài sản chung. Gia đình đồng ý với quan điểm của anh T, đề nghị Toà án xử cho chị T ly hôn anh T theo quy định của pháp luật.

Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Chị T và anh T xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau từ khoảng năm 2015 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị không quan tâm đến nhau. Anh chị không có con chung. Do thời gian ly thân đã kéo dài, khó có thể đoàn tụ nên nếu không hoà giải thành, địa phương đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự đều không có văn bản thay đổi quan điểm.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không giao nộp văn bản trình bày ý kiến, không có mặt tại phiên họp, hòa giải và tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị Đặng Thị T được ly hôn anh Phạm Huy T; không giải quyết về con chung và tài sản chung do các đương sự không có con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình (ly hôn); bị đơn (anh Phạm Huy T) có nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (anh T) đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không chấp hành triệu tập của Tòa án. Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng; sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, tạo điều kiện cho anh T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc anh T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; không trình bày quan điểm của mình; không giao nộp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án là tự từ bỏ các quyền và không chấp hành nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

. Nguyên đơn (chị T) có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn (anh T), mặc dù đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị T và anh T.

- Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị T phù hợp với tài liệu xác minh tại gia đình, địa phương, thể hiện: Chị T và anh T tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 22 tháng 11 năm 2011, là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, chị T và anh T thường xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân, không còn quan tâm nhau từ năm 2015 đến nay. Xét thấy, tình trạng vợ chồng chị T và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Thủy là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, xử cho chị T được ly hôn anh T.

. Về con chung: Chị T và anh T không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị Thủy không yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị T, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T được ly hôn anh Phạm Huy T.

2. Về con chung: Chị T và anh T không có con chung.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết do đương sự không yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006199 ngày 01 tháng 3 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Như vậy, chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ