vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn.

Về con chung: Giao cho chị Đinh Phương Loan được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Anh Duy, sinh ngày 10/9/2014; anh Sơn có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) / 1 tháng kể từ tháng 8/2022 đến khi cháu Duy thành niên. Sau khi l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v: Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:29 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2022
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Hương

Ông Hà Đình Sở

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Nho – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Chị Đinh Phƣơng Loan, sinh năm 1992

ĐKNKTT: Khu 13, xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Chỗ ở hiện nay: Khu 4, xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Anh Trần Ngọc Sơn, sinh năm 1992

Địa chỉ: Khu 13, xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn – chị Đinh Phương Loan trình bày:

VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ vào năm 2013. Sau khi kết hôn chị Loan và anh Sơn về chung sống cùng gia đình anh Sơn tại khu 13, xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ tháng 7/2021 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị Loan làm đơn xin ly hôn anh Sơn.

Về con chung: Chị Đinh Phương Loan xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Anh Duy, sinh ngày 10/9/2014, hiện nay cháu Duy đang sống cùng anh Sơn và ông bà nội. Khi ly hôn, chị Loan xin được nuôi cháu Duy và yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan số tiền 2.000.000đồng/tháng. Hiện nay chị Loan đang làm quản lý của Siêu thị điện máy Media mart tại thị trấn Thanh Sơn, có thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 8.000.000đ đến 9.000.000đ. Chị Loan hiện đang sống cùng mẹ đẻ của chị tại Khu 4, xã Tất Thắng, chị đi làm sáng đi chiều về, chị Loan khẳng định có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Đinh Phương Loan khẳng định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn, anh Trần Ngọc Sơn trình bày:

VÒ quan hÖ h«n nh©n: Anh Sơn thừa nhận về điều kiện, nơi đăng ký kết hôn, thời gian kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như chị Loan trình bày là đúng. Anh chị đã có thời gian sống ly thân nên không còn tình cảm gì với nhau nữa. Nay chị Loan xin ly hôn anh Sơn hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Anh Trần Ngọc Sơn xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Anh Duy, sinh ngày 10/9/2014, hiện nay cháu Duy đang sống cùng anh Sơn và ông bà nội. Khi ly hôn, anh Sơn xin được nuôi cháu Duy và không yêu cầu chị Loan cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh Sơn đang làm nghề lái xe thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 15.000.000đồng. Anh Sơn làm gần nhà sáng đi chiều về nên có thời gian chăm sóc con. Còn nếu chị Loan được nuôi con thì anh Sơn chấp nhận cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan 2.000.000đ/ 1 tháng.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Anh Trần Ngọc Sơn khẳng định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Loan và anh Sơn. Về con chung: Giao cho chị Đinh Phương Loan được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Anh Duy, sinh ngày 10/9/2014 đến khi cháu Duy thành niên. Anh Sơn có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan số tiền 2.000.000đồng/tháng kể từ tháng 8/2022 đến khi cháu Duy thành niên.

Về án phí: Chị Loan, anh Sơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; anh Sơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đinh Phương Loan khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Trần Ngọc Sơn, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cả chị Loan và anh Sơn đều có nơi ĐKNKTT hiện nay tại huyện Thanh Sơn, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cự Thắng vào năm 2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về tình cảm vợ chồng: Cả chị Loan và anh Sơn đều thừa nhận sau khi kết hôn chị Loan và anh Sơn về chung sống cùng gia đình anh Sơn tại khu 13, xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ tháng 7/2021 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa.Hiện nay cả chị Loan và anh Sơn đều khẳng định vợ chồng đã không còn tình cảm. Lời trình bày của các đương sự hoàn toàn phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. HĐXX thấy rằng mâu thuẫn của chị Loan và anh Sơn đã trầm trọng không có khả năng khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Loan và anh Sơn là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn thống nhất xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Anh Duy, sinh ngày 10/9/2014, hiện nay cháu Duy đang sống cùng anh Sơn và ông bà nội. Khi ly hôn cả chị Loan và anh Sơn đều xin được nuôi cháu Duy.

HĐXX thấy rằng nguyện vọng xin được nuôi con của cả hai bên đều chính đáng. Xong xét về điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con chung thấy rằng: Chị Loan và anh Sơn đều có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dạy con chung. Quá trình làm việc tại Tòa án cả hai bên đều chứng minh được công việc và thu nhập của mình. Hiện nay chị Loan đang làm quản lý của Siêu thị điện máy Media mart tại thị trấn Thanh Sơn, có thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 8.000.000đ đến 9.000.000đ, anh Sơn đang làm nghề lái xe thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 15.000.000đồng. Do tính chất công việc không thể thường xuyên ở nhà cả chị Loan và anh Sơn đều đưa ra phương án chăm sóc con chung sau khi ly hôn là sống cùng bố mẹ đẻ để nhờ ông bà phụ giúp việc chăm sóc cháu Duy mỗi khi đi làm.

Xét về nguyện vọng của cháu Duy: Trong bản tự khai do cháu Duy tự viết và tại biên bản lấy lời khai tại khu 13, xã Cự Thắng cháu Duy đều thể hiện quan điểm mong muốn được ở với mẹ là chị Đinh Phương Loan.

Quá trình giải quyết vụ án bố mẹ đẻ của anh Trần Ngọc Sơn là ông Trần Xuân Mai cũng có đơn đề nghị Tòa án xem xét giao cháu Duy cho anh Sơn chăm sóc nuôi dưỡng vì từ nhỏ cháu Duy đã sống cùng ông bà nội, hiện nay cháu đang đi học ổn định tại xã Cự Thắng. Trong quá trình anh Sơn và chị Loan chưa ly thân thì ông bà cũng là người trực tiếp chăm sóc cháu Duy vì anh Sơn và chị Loan thường xuyên đi làm. Hiện nay ông bà đều còn khỏe, gia đình đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc cháu. HĐXX thấy rằng: Việc ông bà cùng bố mẹ chăm sóc giáo dục các cháu là phù hợp với xu hướng, hiện trạng thực tế của xã hội. Tuy nhiên trách nhiệm trực tiếp trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái là của bố mẹ. Mục đích của việc cha mẹ xin được nuôi con chung cơ bản đều là nhằm mang lại những điều kiện tốt nhất để cho con phát triển. Hiện nay cháu Duy đã 8 tuổi, có nguyện vọng của cá nhân. Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng: Cần giao cháu Duy cho chị Loan trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Loan yêu cầu anh Sơn có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan số tiền 2.000.000đồng/tháng. Quan điểm của anh Sơn nếu chị Loan được nuôi con thì anh nhất trí cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan số tiền 2.000.000đ/ tháng. HĐXX thấy rằng cần chấp nhận sự tự nguyện của anh Sơn là phù hợp.

Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn đều khẳng định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Loan phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; anh Sơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Phương Loan và anh Trần Ngọc Sơn.

2. Về con chung: Giao cho chị Đinh Phương Loan được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Anh Duy, sinh ngày 10/9/2014; anh Sơn có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Loan số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) / 1 tháng kể từ tháng 8/2022 đến khi cháu Duy thành niên.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đinh Phương Loan phải nộp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Loan đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2020/0006786 ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Trả lại cho chị Loan 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Anh Trần Ngọc Sơn phải nộp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.".

Cỡ chữ