- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị L và Cù Minh T"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L;
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST. Ngày 28/3/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN -TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thủy và ông Kiều Văn Hai.
Thƣ ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 20202 , tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2021/TLST-HNGĐ ngày14/01/2021, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/ QĐXXST- HNGĐ ngày 16/02/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2022/ QĐST-HNGĐ ngày 16/3/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Đặng Thị L, sinh năm 1990. (Có mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã Ph, huyện L, tỉnh Bà rịa vũng tàu.
Bị đơn: Cù Minh T, sinh năm 1986. (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã Ph, huyện L, tỉnh Bà rịa vũng tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án, bà Đặng Thị L có yêu cầu nhƣ sau:
Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn. Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa bà L và ông T bất đồng ý kiến, cãi vả nhiều lần. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.
Nay bà Đặng Thị L có yêu cầu ly hôn đối với ông Cù Minh T.
- 1 -
- Về con: bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T có hai con chung là: Cù Gia H, sinh ngày 24/01/2012; Cù Gia L, sinh ngày 17/3/2018 (Bà L đang nuôi dưỡng). Bà Đặng Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà L được nuôi hai người con là Cù Gia L và Cù Gia H, bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị L không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung với ông Cù Minh T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu ý kiến:
Về thủ tục xét xử vụ án: Bà Đặng Thị L tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, ông Cù Minh T không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt nhiều lần không có lý do, đề nghị TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị TAND huyện Long Điền chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị L, giao em Cù Gia Linh và em Cù Gia Hân cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Long Điền .
Về thủ tục xét xử vụ án: TAND huyện Long Điền đã triệu tập hợp lệ, bà Đặng Thị L có mặt, ông Cù Minh T vắng mặt hai lần không có lý do (Vắng mặt tại phiên tòa ngày 16/3/2022 và tại phiên tòa hôm nay). Theo quy định tại điều 227 bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông Cù Minh T.
Về nội dung vụ án, xét thấy:
Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn.
Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẩn do bà L và ông T bất đồng ý kiến, có nhiều lần cãi vả. Từ những mâu thuẫn kể trên, theo bà Đặng Thị L thì vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị L.
Về con chung:
Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T có hai con chung là: Cù Gia H sinh ngày 24/01/2012; Cù Gia L, sinh ngày 17/3/2018, bà L đang nuôi dưỡng.
Qua lời trình bày của đương sự cho thấy: Sau khi bà L, ông T ly thân thì các em Cù Gia H, Cù Gia L được bà L nuôi dưỡng, nên giao các em Cù Gia Hân, Cù
- 2 -
Gia Linh cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp thực tế, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con.
Tạm thời, bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T không có tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên không xét đến.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 84, điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án :
1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L;
Bà Đặng Thị L được ly hôn đối với ông Cù Minh T.
2/- Về con chung:
Giao cho bà Đặng Thị L được nuôi dưỡng hai người con chưa thành niên là: Cù Gia H, sinh ngày 24/01/2012 và Cù Gia L, sinh ngày 17/3/2018.
Tạm thời bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
3/- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Thị L và ông Cù Minh T không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.
4/- Về án phí:
- Bà Đặng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004396 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; Bà Đặng Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Cù Minh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5/- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- 3 -