- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng - Phạm Văn Khiên"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST Ngày 28/10/2022 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông Nguyễn Như Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 87/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022, về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã Y, huyện G, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện nay: Số nhà 28, ngõ 104 đường G, tổ 22, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn Kh, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ghi ngày 22 tháng 8 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn Kh có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Yok, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63, ngày 03/10/2012. Cuộc sống vợ chồng sau khi kết hôn không hạnh phúc, thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông Kh không chịu làm ăn, không chăm lo đời sống gia đình, vợ con, đôi khi ông Kh uống rượu về chửi bới, đánh đập bà H. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên nhiều lần hòa giải, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp tục diễn ra. Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn Kh sống ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay, trong quá trình sống ly thân vợ chồng thỉnh thoảng có liên lạc với nhau về con cái. Hiện bà H không còn tình cảm với ông Kh, bà H yêu cầu ly hôn ông Kh.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn Kh có hai con chung, là cháu Phạm Đăng K, sinh ngày 08/4/2013 và cháu Phạm Thị Thùy L, sinh ngày 24/12/2014. Hiện nay cả hai cháu đang sống với ông Kh cùng với ông nội là ông Phạm Văn Khoa và bà Bùi Thị Thuận tại thôn T, xã Y, huyện G, tỉnh Gia Lai. Theo yêu cầu khởi kiện, bà H có nguyện vọng được nuôi cháu Phạm Thị Thùy L, yêu cầy ông Kh nuôi cháu Phạm Đăng K. Trong quá trình giải quyết bà H cho rằng hai con đang chung sống với ông Kh và ông, bà nội, để đảm bảo cho việc học và sinh hoạt của các con nên bà H có thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu ông Kh nuôi cả hai con và bà H sẽ cấp dưỡng nuôi con, mỗi cháu 1.500.000đ/tháng.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn là ông Phạm Văn Kh: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn Kh vắng mặt không cung cấp ý kiến, yêu cầu và tài liệu, chứng cứ.
-Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đảm bảo, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, bị đơn là ông Phạm Văn Kh đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn Kh kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và có đăng ký kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H: Bà H cho rằng cuộc sống gia đình giữa bà và ông Phạm Văn Kh phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017. Ông Phạm Văn Kh đã được Tòa án thông báo yêu cầu khởi kiện của bà H cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo nhưng không có ý kiến phản đối, không tham gia hòa giải tranh chấp, điều này thể hiện không còn quan tâm hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà H và ông Kh đã trầm trọng, các bên không còn yêu thương, quan tâm, chung sống với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại các Điều 19, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Phạm Văn Kh nuôi cháu Phạm Đăng K và cháu Phạm Thị Thùy L, ông Kh không có ý kiến phản đối. Xét cháu K và cháu L hiện đang sống cùng với ông Kh và ông bà nội, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của con, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và cháu L và bà H cấp dưỡng nuôi con, mỗi cháu 1.500.000đ/tháng.
Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tuy nhiên phải tôn trọng, không được lạm dụng quyền thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và có quyền yều cầu thay đổi người nuôi con khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện nuôi con theo quy định tại các Điều 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Áp dụng các Điều 55, 58 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Văn Kh.
2. Về con chung: Ông Phạm Văn Kh là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Đăng K, sinh ngày 08/4/2013 và cháu Phạm Thị Thùy L, sinh ngày 24/12/2014 cho đến khi con thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Bà Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con khi người trực tiếp nuôi con không còn đảm bảo điều kiện trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị H phải cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Đăng K và cháu Phạm Thị Thùy L với mức cấp dưỡng mỗi tháng cho mỗi cháu là 1.500.000đ (một triệu năm trăm đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 28/10/2022 cho đến khi cháu Phạm Đăng K và cháu Phạm Thị Thùy L thành niên, đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0008644 ngày 22/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - UBND xã Ia Yok; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Văn Huy |