vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Q được ly hôn với anh Hồ Minh K. Về nuôi con chung: Giao cháu Hồ Thị Diệu Nh, sinh ngày 15/8/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Q yêu cầu được ly hôn anh Hồ Minh K"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN BÌNH SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ – ST
Ngày 29/7/2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Chung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thạch

Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Duy – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng

Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quý.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn,

tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2022/TLST – HNGĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Q, sinh năm 1998, trú tại: Xóm Đ, thôn P, xã

B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Minh K, sinh năm 1998; trú tại: Thôn P, xã B, huyện S,

tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2022 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị

Lê Thị Q trình bày: Chị đăng ký kết hôn với anh Hồ Minh K ngày 14/5/2020 tại UBND xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy Nhên sau một thời gian ngắn sau ngày cưới, anh K ham chơi cờ bạc dẫn đến ảnh hưởng kinh tế gia đình nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Mỗi lần cãi vã, anh K đuổi chị ra khỏi nhà nên chị ôm con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Hồ Minh K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Thị Diệu Nh, sinh ngày

15/8/2020, hiện đang ở với chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Hồ Minh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là 01 (một) xe môt tô hiệu

Honda SH 125i, biển số kiểm soát 76C1 – 805.53 do anh Hồ Minh K đứng tên trong Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, trị giá 87.000.000đồng, hiện anh K quản lý, sử dụng. Chị và anh K thỏa thuận phân chia tài sản chung: Giao 01 (một) xe môt tô hiệu Honda SH 125i, biển số kiểm soát 76C1 – 805.53 cho anh Hồ Minh K sở hữu. Anh Hồ Minh K có nghĩa vụ thanh toán cho chị ½ giá trị chiếc xe với số tiền 43.500.000đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 01/7/2022, bị đơn anh Hồ Minh K trình bày: Anh

thống nhất với lời trình bày của chị Q về kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung. Chị Lê Thị Q xin ly hôn anh, anh đồng ý. Tại biên bản hòa giải, anh K thay đổi ý kiến là không đồng ý lý hôn mà mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Thị Diệu Nh, không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Yêu cầu Tòa án ghi nhận thỏa thuận phân chia tài sản

chung của vợ chồng, giao 01 (một) xe môt tô hiệu Honda SH 125i, biển số kiểm soát 76C1 – 805.53 cho anh Hồ Minh K sở hữu. Anh Hồ Minh K có nghĩa vụ thanh toán cho chị ½ giá trị chiếc xe với số tiền 43.500.000đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn phát biểu

ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong

quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Q được ly hôn anh

Hồ Minh K. Về con chung: Giao con chung cháu Hồ Thị Diệu Nh cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, chị Q không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng: Giao 01 (một) xe môt tô hiệu Honda SH 125i, biển số kiểm soát 76C1 – 805.53 cho anh Hồ Minh K sở hữu. Anh Hồ Minh K có nghĩa vụ thanh toán cho chị Q ½ giá trị chiếc xe với số tiền 43.500.000đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Chị Lê Thị Q và anh Hồ Minh K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung; chị Lê Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Hồ Minh K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Q và anh Hồ

Minh K là hợp pháp. Quá trình chung sống, do anh K chơi cờ bạc dẫn đến ảnh hưởng kinh tế gia đình nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Tòa án đã hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Q không đồng ý. Điều đó chứng tỏ, tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị Q về việc xin ly hôn với anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Thị Diệu Nh, sinh

ngày 15/8/2020. Chị Q và anh K đều có nguyên vọng được nuôi con. Xét hiện nay cháu Hồ Thị Diệu Nh còn nhỏ, giới tính nữ, dưới 36 tháng tuổi và do chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy để đảm bảo quyền lợi, cuộc sống ổn định cho con chung nên giao cháu Hồ Thị Diệu Nh cho chị Lê Thị Q tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Q không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Q và anh K về

việc phân chia tài sản chung: Giao 01 (một) xe môt tô hiệu Honda SH 125i, biển số kiểm soát 76C1 – 805.53 cho anh Hồ Minh K sở hữu. Anh Hồ Minh K có nghĩa vụ thanh toán cho chị ½ giá trị chiếc xe với số tiền 43.500.000đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Về nợ chung: Chị Lê Thị Q và anh Hồ Minh K xác định không có nợ

chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

điểm a, d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Lê Thị Q và anh Hồ Minh K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung; chị Lê Thị Q phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh

Quảng Ngãi phù hợp với nhận định trên, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4

Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 235; Điều 266; Điều 267, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 59, khoản 3 Điều 81;

Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a, d khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Q được ly hôn với anh Hồ Minh K.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hồ Thị Diệu Nh, sinh ngày 15/8/2020

cho chị Lê Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Q không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Anh Hồ Minh K có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản

trở. Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Q và anh K về việc:

Giao 01 (một) xe môt tô hiệu Honda SH 125i, biển số kiểm soát 76C1 – 805.53 cho anh Hồ Minh K sở hữu. Anh Hồ Minh K có nghĩa vụ thanh toán cho chị Q ½ giá trị chiếc xe với số tiền 43.500.000đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Chị Lê Thị Q phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.387.500đồng (Một triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0002497, ngày 30/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn. Chị Lê Thị Q được hoàn trả số tiền chênh lệch 1.087.500đồng (Một triệu, không trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

Chị Lê Thị Q có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/7/2022). Anh Hồ Minh K vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ