- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vu án Galaxy-Thu Hà"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với bà Nguyễn Thị Thu H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/DS-ST Ngày: 20-9-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Sang
Ông Bùi Đức Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXX-DS ngày 02 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS ngày 25/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH mua bán nợ G
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền T – Giám đốc
Địa chỉ: Tầng 1, tầng 2, tòa nhà PVL LT Tower, số 5 đường D1, phường LT, Tp TĐ, Tp Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1985; nơi cư trú: 89 HPT, phường HX, quận CL, Đà Nẵng là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 21/5/2022). (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ 3, khối HL, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2022 của Công ty TNHH Mua bán nợ G, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:
Vào 08/05/2017, bà Nguyễn Thị Thu H có kí hợp đồng tín dụng số 20170511-0000348 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (Nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng VNTV SMBC) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) để vay số tiền 26.375.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3.54%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thu H có trách nhiệm thanh toán số tiền 39.591.400 đồng (gồm cả gốc lẫn lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.649.641 đồng, tháng cuối cùng trả 1.649.657 đồng. Bắt đầu từ ngày 10/06/2017.
Thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thu H đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 5 lần với tổng số tiền 8.249.282 đồng bao gồm 3.840.183 đồng nợ gốc và 4.409.099 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 29/11/2017 đến nay, bà Nguyễn Thị Thu H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Hiện nay khoản nợ đã được VPB SMBC FC chuyển nhượng lại cho Công ty TNHH Mua bán nợ G.
Do bà Nguyễn Thị Thu H trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH mua bán nợ G khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thu H thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số nợ tính đến 10/05/2019 là 31.342.118 (ba mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai ngàn một trăm mười tám) đồng, bao gồm:
- Trả toàn bộ khoản nợ gốc tính đến 10/05/2019: 22.534.817 đồng
-Trả toàn bộ khoản nợ tính lãi tính đến 10/05/2019: 8.807.301 đồng.
Ngoài ra, Công ty G không yêu cầu tính lãi quá hạn phát sinh.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý án án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thu H không đến Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà H. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị: Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền nợ tính đến ngày 10/05/2019 là 31.342.118 đồng (trong đó tiền gốc 22.534.817 đồng, tiền lãi 8.807.301 đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty G không yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 10/05/2019. Về án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Công ty TNHH Mua bán nợ G yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H trả tiền vay, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Căn cứ khoản 3, Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
[1.2] Nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H, cư trú tại: Tổ 3, khối HL, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
[1.3] Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu H theo quy định của pháp luật.
Về nội dụng: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G, yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền tính đến ngày 10/05/2019 là 31.342.118 đồng, trong đó nợ gốc: 22.534.817 đồng, nợ lãi: 8.807.301 đồng.
Bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản trình bày ý kiến khi nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự “đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng ngày 08/05/2017 thì có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị Thu H có ký với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (Nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng VNTV SMBC) Hợp đồng vay vốn số 20170511-0000348 số tiền 26.375.000 đồng, trong đó vay tiêu dùng 25.000.000 đồng, vay trả phí bảo hiểm là 1.375.000 đồng (Phí bảo hiểm là 5,5% giá trị của khoản vay tieu dùng cá nhân), thời hạn vay 24 tháng, lãi suất 3.54%/tháng. Lịch sử thanh toán và Bảng kế hoạch trả nợ thì hình thức và nội dung sự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự. Bà Nguyễn Thị Thu H đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 5 lần với tổng số tiền 8.249.282 đồng bao gồm 3.840.183 đồng nợ gốc và 4.409.099 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 29/11/2017 đến nay, bà Nguyễn Thị Thu H không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng vay vốn đã ký nên căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH Mua bán nợ G về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H thanh lý hợp đồng trả một lần cho Công ty số tiền tính đến ngày 10/05/2019 là 31.342.118 đồng (trong đó nợ gốc: 22.534.817 đồng, nợ lãi: 8.807.301 đồng) là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 108 của Luất các tổ chức tín dụng, nên chấp nhận.
Sau ngày 10/05/2019 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả bất kỳ khoản lãi nào nữa. Sau ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn phải chịu lãi chậm thi hành án theo quy định của Bộ luật Dân sự theo yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí sơ thẩm: Do có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G nên bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố dụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì án phí về tranh chấp dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 31.342.118đ x 5% = 1.567.106đ. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với bà Nguyễn Thị Thu H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền nợ tính đến ngày 10/05/2019 là 31.342.118 đồng (ba mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn một trăm mười tám đồng), trong đó tiền gốc 22.534.817 đồng, tiền lãi 8.807.301 đồng.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH Mua bán nợ G không yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 10/05/2019.
4. Án phí dân sự sơ thẩm
- Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 1.567.106 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm linh sáu đồng).
- Hoàn trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền 783.000 đồng (bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí (do ông Nguyễn Đức H nộp) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007339 ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THADS huyện Tây Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Minh Trí THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |