vanban.org

Bản án 29/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1049/PC54 chứa chất ma túy và vỏ túi nilon đựng chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 chiếc ví da màu đen; 01ví da màu nâu; 01 chiếc đĩa sứ; 01chiếc tẩu tự cuốn bằng giấy; 01 con dao lam đã qua sử dụng; 07 mảnh giấy bạc hình chữ nhật (kích thước 4cm x 9cm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trung Anh - Bị truy tố tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HSST
Ngày 18-3-2021

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chương

2. Bà Nguyễn Thị Lý.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Cán bộ Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo A (tên khác: Thối), sinh năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; con ông Bùi Trung ThA và bà Vũ Thị Hồng; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/6/2020 đến ngày 28/6/2020 chuyển tạm giam. Có mặt.

2. Bị cáo T, sinh năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 8, xã T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Bùi Doãn Duyên và bà Nguyễn Thị Mai; có vợ là Vũ Thị Hiền, sinh năm 1997, có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/11/2020. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: A Vũ Trọng Long; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Trung A và T là những người nghiện ma túy. Để có tiền sử dụng ma túy cho chính bản thân mình, các bị cáo đã mua ma túy về bán cho những người nghiện khác để vừa kiếm lời vừa để bản thân được sử dụng.

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 05/10/2017, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T kết hợp với Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực thôn 2, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng phát hiện tại nơi ở của A có một nhóm đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy gồm: A; T; Đàm Trì Thái, sinh năm 1992; Nguyễn Phú Tú, sinh năm 1994; Đỗ Đức Dũng, sinh năm 1986; Vũ Trọng Long, sinh năm 1991 đều trú tại xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng và Bùi Văn Dũng, sinh năm 1991 trú tại thị trấn Minh Đức, huyện T, thành phố Hải Phòng. Bị Công an kiểm tra, Trung A, T, Tú, Long và Đỗ Đức Dũng bỏ chạy. Thu giữ của Bùi Văn Dũng 01 chiếc ví da màu đen bên trong có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động (nhãn hiệu Nokia gắn số sim 0164.678.6035). Thu tại khu vực sân nhà A 05 chiếc xe mô tô đã qua sử dụng mang các biển kiểm soát 15G1-278.28; 16P1-4313; 15G1-569.03; 15B1-401.87; 16R1-3332. Cơ quan công an đã đưa Bùi Văn Dũng và Đàm Trì Thái cùng vật chứng về trụ sở Công an xã T lập biên bản vụ việc.

Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của A, Cơ quan điều tra thu giữ: Tại nền bếp có 01 gói giấy bên trong có chất bột màu trắng. Trong phòng ngủ của A có các đồ vật: 01 chiếc ví da màu nâu, bên trong ví có 02 túi nylon chứa chất bột màu trắng; 01 túi nylon (kích thước 03cm x 03cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 chiếc thẻ căn cước công dân số 031.086006150 mang tên A tại ngăn bên phải tủ gỗ; 01 chiếc đĩa sứ chứa chất bột màu trắng, 01 tẩu tự cuốn bằng giấy, 01 dao lam đã qua sử dụng, 07 mảnh giấy bạc hình chữ nhật (kích thước 4cm x 9cm), 02 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0164.784.6474, 01 chiếc nhãn hiệu VIVO màu trắng gắn sim số 0919.629.809) tại mặt bàn; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát nhọn trên giường ngủ.

Quá trình điều tra, A bỏ trốn, đến ngày 24/6/2020 bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Tại Cơ quan điều tra, A khai: Bản thân Trung A nghiện ma túy nên đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời và cho những người nghiện sử dụng ma túy tại nơi ở của mình khi họ có nhu cầu. Trung A thường xuyên đến khu vực đường tàu quận Lê Chân mua ma túy của người không quen biết, mang về nhà chia nhỏ, đóng gói để bán cho người khác. Loại ma túy Trung A bán là Heroine và ma túy đá (Methamphetamine). Giá bán Heroine là 100.000đồng/gói, ma túy đá 100.000đồng/túi. Cách thức người nghiện và Trung A giao dịch mua bán ma túy qua điện thoại, đến nơi ở của Trung A để trao đổi. Sau khi mua ma túy xong, người nghiện muốn sử dụng ma túy thì Trung A cho họ sử dụng tại phòng ngủ của mình và không thu tiền. Trung A, T là bạn bè cùng nghiện ma túy. Trung A biết T bán ma túy. Địa điểm Trung A và T bán ma túy tại nơi ở của Trung A nhưng cả hai không chung vốn. Cả hai đều biết nhau bán ma túy, khách đến mua ma túy của ai thì người đó bán. Nếu hết hàng thì sẽ giới thiệu cho nhau để bán ma túy. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2017 (không nhớ chính xác ngày) đến tháng ngày 05/10/2017, Trung A đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người và đã nhiều lần giới thiệu khách mua ma túy cho T bán cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ, ngày cuối tháng 9/2017 (không nhớ chính xác ngày), Trung A bán cho Vũ Trọng Long và Vũ Đình Sơn, sinh năm 1996, trú tại xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, có Nguyễn Phú Tú chứng kiến. Sơn và Long sử dụng ma túy ngay tại phòng ngủ của Trung A.

- Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ, ngày 01/10/2017, Trung A bán cho Bùi Văn Dũng 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, có T và hai người lạ mặt là khách mua ma túy của Trung A chứng kiến (không xác định được căn cước lai lịch).

- Lần thứ ba: Khoảng 9 giờ, ngày 02/10/2017, Trung A bán cho Nguyễn Phú Tú 01 túi ma túy đá giá 100.000 đồng, có Vũ Nhân Thủy, sinh năm 1989, trú tại Thôn 8, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng chứng kiến. Hiện Thủy vắng mặt tại địa phương. Tú hỏi Trung A mượn bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, rồi sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Trung A.

- Lần thứ tư: Khoảng 15 giờ, ngày 04/10/2017, Trung A bán cho Bùi Văn Dũng 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, có T và Tú chứng kiến. Dũng sử dụng ma túy ngay tại phòng ngủ của Trung A.

- Lần thứ năm: Khoảng 23 giờ, ngày 04/10/2017, Trung A bán cho Nguyễn Văn ThA, sinh năm 1993, trú tại xã Kênh Giang, huyện T, thành phố Hải Phòng 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, có Tú chứng kiến. ThA sử dụng ma túy ngay tại phòng ngủ của Trung A.

- Lần thứ sáu: Trưa ngày 05/10/2017, Đỗ Đức Dũng, T, Tú đến nhà Trung A rủ nhau sử dụng ma túy đá. Trung A hỏi mượn điện thoại của Dũng để mang đi cầm cố, mua ma túy đá để cả nhóm sử dụng. T chở Trung A đi cầm điện thoại được 800.000 đồng, rồi cả hai đi mua ma túy. T đứng ngoài chờ, Trung A vào khu vực đường tàu quận Lê Chân mua 01 túi ma túy đá giá 200.000đồng. Cả hai quay về nhà Trung A để sử dụng ma túy. Trung A lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá để lên giường. T đổ ½ túi ma túy đá vừa mua được vào nỏ, đốt để mọi người (Trung A, T, Dũng, Tú) sử dụng. Trung A cất ½ gói ma túy đá còn lại vào ví của mình để bán cho người khác.

Trong khi nhóm của Trung A đang sử dụng ma túy đá, khoảng 15 giờ ngày 05/10/2017, Trung A bán cho Bùi Văn Dũng 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, có Đỗ Đức Dũng và T chứng kiến. Dũng sử dụng ma túy vừa mua được của Trung A ngay tại phòng ngủ của Trung A, còn lại một ít Dũng cất giữ trong người bị Công an thu giữ. Sau đó, Dũng được nhóm của Trung A cho sử dụng ma túy đá.

Cả nhóm tiếp tục sử dụng ma túy thì Đàm Trì Thái, Vũ Trọng Long đến cùng tham gia sử dụng ma túy đá. Cả nhóm sử dụng đến 15 giờ 15 phút thì bị công an kiểm tra, phát hiện cùng vật chứng như nội dung nêu trên.

Ngoài những lần một mình bán ma túy nêu trên, Trung A và T còn giới thiệu khách cho nhau bán ma túy, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày giữa tháng 9/2017 (không nhớ chính xác ngày), T dẫn Nguyễn Văn Linh, sinh năm 1992 trú tại xã Lưu Kiếm, huyện T, thành phố Hải Phòng đến nhà Trung A mua ma túy. Trung A bán cho Linh 01 gói Heroine giá 100.000đồng, Linh sử dụng ngay tại phòng ngủ của Trung A.

- Lần thứ hai: Buổi chiều ngày giữa tháng 9/2017 (không nhớ chính xác ngày), Bùi Văn Dũng gọi điện thoại cho Trung A hỏi mua 01 gói Heroine giá 100.000 đồng, hẹn đến nhà Trung A giao dịch. Do không ở nhà nên Trung A đã gọi điện thoại cho T bảo T bán ma túy cho Dũng tại nhà Trung A. T đã bán cho Dũng 01 gói Heroine giá 100.000 đồng.

- Lần thứ ba:Khoảng 12 giờ ngày 01/10/2017, Trung A, Nguyễn Phú Tú, T và Ngân (bạn gái của T, chưa xác định được căn cước, lai lịch) đang ở nhà Trung A. T nghe điện thoại rồi nói với Trung A “Lát nữa thằng Linh nó đến A còn không thì để cho nó 100”. Trung A hiểu là T bảo Trung A bán ma túy cho Linh. Một lúc sau, Nguyễn Văn Linh và Đào Công Hải, sinh năm 1989, trú tại xã Lưu Kiếm, huyện T, thành phố Hải Phòng đến. Linh đưa cho T 100.000 đồng, nhưng T hất hàm về phía Trung A và nói với Linh đưa tiền cho Trung A và nói“bán cho em con một trăm”. Trung A nhận tiền và đưa cho Linh 01 gói Heroine. Linh và Hải cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Trung A. Sự việc này có Tú, T và Ngân chứng kiến.

Khi bị công an phát hiện, Trung A sợ bỏ trốn. Trong thời gian bỏ trốn không phạm tội mới. Về nguồn gốc số ma túy, các dụng cụ sử dụng ma túy Công an thu giữ tại nơi ở của Trung A và trong ví của Trung A đều là tài sản của Trung A. Tại nơi ở của Trung A chỉ có một mình Trung A quản lý, sử dụng. Việc bán ma túy và cho các đối tượng sử dụng ma túy tại nơi ở của mình, Trung A không nói với người thân trong gia đình. Trung A biết T bán ma túy, đã nhiều lần chứng kiến và giới thiệu khách cho T bán ma túy. Trung A đồng ý cho T bán ma túy tại nơi ở của mình và khách mua ma túy của T sử dụng ma túy tại nơi ở của mình nhưng không thu lợi, không được hưởng lợi ích vật chất gì.

Tại Cơ quan điều tra, T ban đầu không nhận bán ma túy cho những người nghiện khác. Không nhận việc giới thiệu khách cho Trung A bán ma túy và bán ma túy cho khách của Trung A giới thiệu. Sau thay đổi lời khai về việc những người nghiện có hỏi mua ma túy của T nhưng T không bán ma túy mà đến hiệu thuốc mua thuốc cảm để bán cho những người nghiện. T không nhớ tên thuốc, đặc điểm cụ thể, chỉ nhớ mua viên thuốc màu trắng, bẻ ½ bán cho các đối tượng nghiện. T cũng không nhớ địa chỉ cửa hàng thuốc đã mua.

Những người nghiện mua ma túy của T gồm: Nguyễn Văn Linh, Vũ Trọng Long, Đào Công Hải, Đàm Trì Thái, Nguyễn Phú Tú, Nguyễn Văn ThA và A đều khai: Linh, Long, Hải, Thái, ThA mua ma túy của T để sử dụng cho bản thân. Các đối tượng trực tiếp giao dịch với T để mua ma túy. Loại ma túy các bên mua bán là Heroine, giá bán 01 gói Heroine từ 50.000 đồng đến 200.000đồng. Địa điểm mua bán ma túy tại khu vực gần nơi ở của T hoặc nơi ở của Trung A hoặc nơi khác. Khi T không có ma túy sẽ giới thiệu cho Trung A bán ma túy cho những người nghiện. Trung A và Tú chứng kiến T bán ma túy nhiều lần. Trong khoảng thời gian từ ngày 24/9/2017 đến ngày 04/10/2017, T đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 24/9/2017, Linh và Hải góp mỗi người 100.000đồng mua ma túy về sử dụng. Linh gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy, T hẹn đến nhà Vũ Trọng Long giao dịch. Hải đưa cho T 200.000 đồng, T nhận tiền, rồi đưa ma túy cho Hải. Hải, Linh sử dụng luôn. Long không biết việc T bán ma túy và Linh, Hải sử dụng ma túy tại nơi ở của mình.

- Lần thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 28/9/2017, Thái mua của T 01 gói Heroine giá 50.000đồng tại nhà T.

- Lần thứ ba: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/10/2017, Long, T, Tú đang ở nhà Long chơi thì Long hỏi mua của T 01 gói Heroine giá 100.000đồng, Tú chứng kiến.

- Lần thứ tư: Khoảng 18 giờ ngày 02/10/2017, Linh và Hải góp mỗi người 50.000đồng mua ma túy sử dụng. Linh gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy nhưng T hẹn đến nhà Trung A. Tại đây, Linh gặp Trung A, T và Tú đang ngồi chơi. Linh đưa cho T số tiền 100.000đồng. T nhận tiền và đưa cho Linh 01 gói Heroine. Linh và Hải sử dụng ma túy luôn tại nhà Trung A. Việc Linh và T mua bán, có Trung A và Tú chứng kiến.

- Lần thứ năm: Khoảng 18 giờ ngày 03/10/2017, Thái mua của T 01 gói Heroine với giá 100.000đồng tại nhà Trung A, có Trung A chứng kiến.

- Lần thứ sáu: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 03/10/2017, Long mua của T 01 gói Heroine giá 100.000đồng tại nhà T.

- Lần thứ bảy: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/10/2017, T đến nhà Long chơi. Long mua của T 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, những người nghiện mua ma túy của Trung A, T gồm: Vũ Trọng Long, Vũ Đình Sơn, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Phú Tú, Nguyễn Văn ThA, Nguyễn Văn Linh, Đào Công Hải, Đàm Trí Thái khai nhận phù hợp với nhau như nội dung nêu trên.

Lời khai của các bị cáo, những người liên quan là những người mua ma túy, người làm chứng phù hợp với biên bản kiểm tra, xác minh tin báo; các đồng chí Công an, lời khai của người làm chứng, lời khai của người có liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Lời khai của những người nghiện mua ma túy của T phù hợp với nhau, như nội dung nêu trên. Những người nghiện đều khẳng định mua Heroine của T, sử dụng luôn ngay sau đó. Không có ai khẳng định T bán ½ viên thuốc cảm màu trắng như T khai. Những người nghiện ma túy từ chối đối chất trực tiếp với T do sợ trả thù.

Vật chứng của vụ án chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên gồm:

- Chất ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định;

- 02 chiếc ví giả da (01 chiếc màu đen; 01 chiếc màu nâu);

- 03 chiếc điện thoại di động (02 chiếc nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0164.678.6035; 0164.784.6474); 01 điện thoại di động (nhãn hiệu VIVO màu trắng gắn sim số 0919.629.809);

- 01 chiếc đĩa sứ; 01chiếc tẩu tự cuốn bằng giấy; 01 con dao lam đã qua sử dụng; 07 mảnh giấy bạc hình chữ nhật (kích thước 4cm x 9cm); 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 bật lửa gas; 01 đoạn ống hút nhựa.

- 01 Thẻ căn cước công dân số 031.086006150 có tên A;

- Đối với 05 chiếc xe mô tô Công an thu giữ tại nơi ở của A. Quá trình điều tra xác định:

Chiếc xe mang biển kiểm soát 15G1-278.28 (T sử dụng khi bị Công an phát hiện) là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Vũ Thị Hiền, sinh năm 1997, trú tại xã Lưu Kỳ, huyện T, thành phố Hải Phòng (vợ của T). Việc T sử dụng chiếc xe mô tô trên liên quan đến hành vi phạm tội, chị Hiền không biết, không liên quan nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Hiền.

Chiếc xe mang biển kiểm soát 16P1-4313 (Dũng sử dụng khi bị Công an phát hiện) là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Bùi Văn Hoan, sinh năm 1960, trú tại thị trấn Minh Đức, huyện T, thành phố Hải Phòng (bố của Bùi Văn Dũng). Ông Hoan cho Dũng mượn làm phương tiện đi lại, không biết, không liên quan đến việc Dũng sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Hoan.

Chiếc xe mang biển kiểm soát 15G1-569.03 (Thái sử dụng khi bị Công an phát hiện) là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của A Vũ Đức Thành, sinh năm 1998, trú tại xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. A Thành cho Thái mượn làm phương tiện đi lại, không biết, không liên quan đến việc Thái sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho A Thành.

Chiếc xe mang biển kiểm soát 15B1-401.87, Công an thu tại nơi ở của A, là xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của A Bùi Trọng Đoạt, sinh năm 1990, trú tại xã Lưu Kỳ, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ngày 05/10/2017, A Đoạt gửi xe ở nhà Trung A, không liên quan đến hành vi phạm tội Trung A nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho A Đoạt.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16R1-3332 (Dũng sử dụng khi bị Công an phát hiện) là xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Đỗ Đức Dũng. Dũng chỉ chứng kiến việc Trung A bán ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội của Trung A nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Dũng sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 1049/PC54 ngày 08/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng Công an thu của Bùi Văn Dũng là ma túy, có khối lượng 0,0074 gam, là loại Heroine. Các chất bột màu trắng Công an thu khi khám xét nơi ở A là ma túy, đều là loại Heroine gồm: Thu tại bếp có trọng lượng 0,0561 gam; thu trên đĩa sứ có trọng lượng 0,0203 gam; thu trong ví của Trung A có khối lượng 2,3885 gam và 1,0957 gam. Tinh thể trong ví của Trung A có khối lượng 0,1784 gam, là chất ma túy, là loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma túy Heroine là 3,568 gam (= 0,0074 gam + 0,0561 gam + 0,0203 gam + 2,3885 gam+ 1,0957gam); khối lượng chất ma túy Methamphetamine là 0,1784 gam.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSTN ngày 04/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo A và T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và truy tố bị cáo A về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (tương đương với điểm b “phạm tội nhiều lần”, d “đối với nhiều người” khoản 2 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1999).

Tại phiên toà:

Bị cáo A và T khai nhận đã thực hiện hành vi mua bán và chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy cho các đối tượng Vũ Trọng Long, Vũ Đình Sơn, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Phú Tú, Nguyễn Văn ThA, Nguyễn Văn Linh, Đào Công Hải, Đàm Trí Thái như nội dung nêu trên và thừa nhận toàn bộ các hành vi bán ma túy cho những người nghiện khác cũng như việc giới thiệu khách cho Trung A bán ma túy và bán ma túy cho khách của Trung A giới thiệu hoàn toàn phù hợp với những lời khai của bị cáo Trung A, lời khai của những người liên quan, đối tượng mua ma túy và người làm chứng. Lý do cho sự thay đổi lời khai, bị cáo T khai nhận là do bị cáo T nhận thấy cần sự khoan hồng của pháp luật và từ việc khai nhận cụ thể chi tiết của bị cáo Trung A khiến bị cáo nhớ lại chính xác hơn các diễn biến sự việc diễn ra các hành vi vi phạm pháp luật của bản thân mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội dA, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194 của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 55; điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 riêng đối với bị cáo Trung A, xử phạt bị cáo A với mức án từ 08 năm đến 09 năm tù và bị cáo T với mức án từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo A với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội đối với bị cáo A là từ 15 năm 06 tháng đến 17 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo A tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là từ ngày 24/6/2020 là ngày bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã số 38 ngày 15/9/2018; Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt tù đối với bị cáo T theo Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 đã có hiệu lực của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng là từ 10 năm 03 tháng đến 10 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2020; Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo Trung A và T.

Xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo,người làm chứng tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản kiểm tra xác minh ngày 05/10/2017, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2017 đến ngày 05/10/2017, Trung A đã nhiều lần (06 lần) trực tiếp bán ma túy (Heroine, Methamphetamine) cho nhiều người (Vũ Trọng Long, Vũ Đình Sơn, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Phú Tú, Nguyễn Văn ThA) và cho nhiều người nghiện sử dụng ma túy tại nơi ở của mình (04 lần) và cho khách trực tiếp mua ma túy của Trung A gồm Vũ Trọng Long, Vũ Đình Sơn, Nguyễn Phú Tú, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Văn ThA cùng với 02 lần cho khách của T gồm Nguyễn Văn Linh, Bùi Văn Dũng, Đào Công Hải sử dụng ma túy và đã nhiều lần (03 lần) giới thiệu khách cho T bán ma túy và bán ma túy cho khách của T giới thiệu. Tổng số lần thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của Trung A là 09 lần.

Trong khoảng thời gian từ ngày 24/9/2017 đến ngày 04/10/2017, T đã nhiều lần (07 lần) bán ma túy (Heroine) cho nhiều người (Đào Công Hải, Nguyễn Văn Linh, Đàm Trì Thái, Vũ Trọng Long, Nguyễn Văn ThA) và đã nhiều lần (03 lần) giới thiệu khách cho Trung A bán ma túy và bán ma túy cho khách của Trung A giới thiệu. Tổng số lần thực hiện hành vi phạm tội của T là 10 lần.

Hành vi của Trung A và T bị Công an phát hiện bắt quả tang ngày 05/10/2017. Tổng khối lượng chất ma túy Công an thu giữ gồm: Heroine là 3,568 gam và Methamphetamine là 0,1784 gam. Bị cáo Trung A thừa nhận số ma túy trên là của bị cáo vừa để dùng cho bản thân và vừa để bán cho đối tượng nghiện ma túy. Khi thực hiện các hành vi phạm tội, các bị cáo không có ai giúp sức, tham gia cùng ngoài việc giới thiệu khách hàng cho nhau bán ma túy.

Như vậy hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và bị cáo A đủ yếu tố cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 12/CT-VKSTN ngày 04/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố các bị cáo như đã nêu trên là đúng pháp luật.

Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào... mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội nhiều lần;

Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kì hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;...

d) Đối với 02 người trở lên”.

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về cất giữ, sử dụng các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo Trung A có bác ruột Bùi Trung Hiên là liệt sỹ, bị cáo T có ông nội là Bùi Doãn Chứa là liệt sỹ hiện gia đình các bị cáo đang thờ cúng và hưởng chế độ chính sách đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho từng bị cáo.

Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chưa từng bị kết án tính đến thời điểm phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra bị cáo T có hành vi phạm tội và đã bị Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải phòng kết án bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 đã có hiệu lực pháp luật với mức hình phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản thể hiện nhân thân bị cáo xấu, ý thức pháp luật kém.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong tội dA mua bán trái phép chất ma tuý, không có sự bàn bạc, thống nhất giữa các bị cáo từ trước. Các bị cáo đều có 03 lần giới thiệu đối tượng nghiện là khách hàng cho nhau để bán ma tuý nhằm thu lợi bất chính để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân cho nên vai trò đồng phạm trong những lần giới thiệu của các bị cáo cho nhau là như nhau, HĐXX xem xét, quyết định mức hình phạt tương xứng với mức độ, vai trò của hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, vai trò của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải áp dụng hình phạt ở mức khởi điểm và trên mức khởi điểm của khung hình phạt tương xứng với từng tội dA, buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung, xét các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản riêng và thu nhập, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối các với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1049/PC54 chứa chất ma túy và vỏ túi nilon đựng chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 chiếc ví da màu đen; 01ví da màu nâu; 01 chiếc đĩa sứ; 01chiếc tẩu tự cuốn bằng giấy; 01 con dao lam đã qua sử dụng; 07 mảnh giấy bạc hình chữ nhật (kích thước 4cm x 9cm); 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 bật lửa gas; 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát nhọn.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động (02 chiếc nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0164.678.6035; 0164.784.6474); 01 điện thoại di động (nhãn hiệu VIVO màu trắng gắn sim số 0919.629.809 đã qua sử dụng của các bị cáo và đối tượng nghiện ma tuý sử dụng để thực hiện tội phạm cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.

Đối với thẻ Căn cước công dân số 031.086006150 mang tên A là Văn bản của cơ quan Nhà nước có tính chất gắn liền với công dân cần trả lại cho bị cáo A.

Đối với các số tiền: Bị cáo Trung A có được tổng cộng 800.000 đồng, cụ thể: 100.000 đồng vào cuối tháng 9/2017 Trung A có được do bán ma túy cho Vũ Trọng Long và Vũ Đình Sơn; 100.000 đồng ngày 01/10/2017 có được do bán ma túy cho Bùi Văn Dũng; 100.000 đồng ngày 02/10/2017 có được do bán ma túy cho Nguyễn Phú Tú; 100.000 đồng ngày 04/10/2017 có được do bán ma túy cho Bùi Văn Dũng; 100.000 đồng ngày 04/10/2017 có được do bán ma túy cho Nguyễn Văn ThA; 100.000 đồng ngày 05/10/2017 có được do bán ma túy cho Bùi Văn Dũng; 100.000 đồng vào giữa tháng 9/2017 có được do bán ma túy cho Nguyễn Văn Linh; 100.000 đồng ngày 0501/10/2017 có được do bán ma túy cho Nguyễn Văn Linh và Đào Công Hải. Bị cáo T có được tổng cộng là 850.000 đồng: 200.000 đồng vào ngày 24/9/2017 T có được do bán ma túy cho Linh và Hải; 50.000 đồng ngày 28/9/2017 có được do bán ma túy cho Thái; 100.000 đồng ngày 01/10/2017 có được do bán ma túy cho Long; 100.000 đồng ngày 02/10/2017 có được do bán ma túy cho Linh và Hải; 100.000 đồng ngày 03/10/2017 có được do bán ma túy cho Thái; 100.000 đồng ngày 03/10/2017 có được do bán ma túy cho Long; 100.000 đồng ngày 04/10/2017 có được do bán ma túy cho Long; 100.000 đồng vào giữa tháng 9/2017 có được do bán ma túy cho Bùi Văn Dũng. Đây là những số tiền thu lợi bất chính do bán trái phép chất ma túy mà có nên cần tuyên truy thu sung quỹ Nhà nước.

. Trong vụ án này:

Đối với các đối tượng Vũ Trọng Long, Vũ Đình Sơn, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Phú Tú, Nguyễn Văn ThA, Nguyễn Văn Linh, Đào Công Hải, Đàm Trí Thái có hành vi mua ma túy của Trung A, T để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra không thu giữ được ma túy của Long, Sơn, Tú, ThA, Linh, Hải, Thái; lượng ma túy Công an thu giữ của Bùi Văn Dũng không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Về nhân thân các đối tượng Long, Sơn, Tú, ThA, Linh, Hải, Thái, Dũng chưa có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy nên Công an huyện T đã xử lý hành chính đối với các đối tượng trên.

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Trung A, T, Bùi Dũng, Đức Dũng, Thái, Tú bị Công an phát hiện bắt quả tang ngày 05/10/2017. Quá trình điều tra xác định, các đối tượng Trung A, T, Bùi Dũng, Đức Dũng, Thái, Tú đều là đối tượng nghiện, thuộc dA sách quản lý của Công an xã. Hành vi của các đối tượng trên không cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện T đã xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối tượng bán ma túy cho Trung A, T, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên không có cơ sở điều tra.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự, Xử: Bị cáo A 08 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và 07 (Bảy) năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/6/2020(Là ngày bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã số 38 ngày 15/9/2018).

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử: Bị cáo T 08 (Tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tù đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải phòng buộc bị cáo phải chấp hành là 09 năm 03 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/11/2020.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 1049/PC54 chứa chất ma túy và vỏ túi nilon đựng chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 chiếc ví da màu đen; 01ví da màu nâu; 01 chiếc đĩa sứ; 01chiếc tẩu tự cuốn bằng giấy; 01 con dao lam đã qua sử dụng; 07 mảnh giấy bạc hình chữ nhật (kích thước 4cm x 9cm); 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 bật lửa gas; 01 đoạn ống hút nhựa, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát nhọn.

Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước đối với 03 chiếc điện thoại di động (02 chiếc nhãn hiệu Nokia gắn sim số 0164.678.6035; 0164.784.6474); 01 điện thoại di động (nhãn hiệu VIVO màu trắng gắn sim số 0919.629.809 đã qua sử dụng).

Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền bị cáo Trung A có được tổng cộng 800.000 đồng và bị cáo T có được tổng cộng là 850.000 đồng là những số tiền thu lợi bất chính do bán trái phép chất ma túy mà có (Các vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2021; Phiếu nhập kho ngày 04/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo A và T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ