vanban.org

Bản án 29/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

* Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma t y . Xử phạt bị cáo Lường Văn N 24 ( hai mươi tư ) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N+ ĐB - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HSST
Ngày 20/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường T Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp.

Ông Lường Văn Duôi.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 20/12/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2021/TLST-HS ngày 11/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 02/12/2021 đối với các bị cáo:

1. Lường Văn N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1992 tại x T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư tr : Bản L, x T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông : Lường Văn L, sinh năm : 1956 và bà : Lường Thị U, sinh năm : 1956; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án : Không; Tiền sự: Không; Nhân thân : Ngày 21/6/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma t y ( đ xóa án tích ); Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam t ngày 30/7/2021 cho đến nay, có mặt.

2. Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994 tại x T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư tr : Bản T, x T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; iới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Lò Văn M, sinh năm : 1970 và bà : Lò Thị D, sinh năm : 1972; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án : Không; Tiền sự: Không; Nhân thân : Ngày 10/9/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma t y ( đ xóa án t ch ); Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam t ngày 30/7/2021 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Hồi 8 giờ 30 phút, ngày 30/7/2021 tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Bản Lọng Cại, x Thôm Mòn, huyện Thuận Châu phát hiện b t quả tang Lường Văn N và Lò Văn T có hành vi có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma t y tại nhà ở của Lường Văn N tại bản Lọng Cại, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- Một gói nilon màu tr ng bên trong có chứa hai viên nén hình trụ màu hồng, nghi là ma t y tổng hợp ( N và T khai nhận là ma túy tổng hợp). Tạm giữ trong t i quần đằng trước bên trái N đang mặc.

- Một gói nilon màu tr ng bên trong chứa chất bột cục màu tr ng nghi là Heroine và hai viên nén hình trụ màu hồng, nghi là ma t y tổng hợp ( N và T khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp) tạm giữ ở trong t i quần đằng trước bên trái T đang mặc.

- Một mảnh giấy bạc bị đốt dở không rõ hình dạng và một bật lửa ga vỏ nhựa màu xanh không rõ nh n hiệu đ qua sử dụng cũ.

- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam số tiền 60.000 đồng gồm một tờ tiền Polime mệnh giá 50.000 đồng có số seri KO: 09625256 và một tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng số seri: OP18010631 thu giữ của Lường Văn N.

Hồi 13 giờ 30 ph t cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đ T hành bóc mở niêm phong cân tịnh chất bột cục màu tr ng và 02 viên nén hình trụ màu hồng được gói trong nilon màu tr ng thu giữ của Lò Văn T ( Gói nilon thứ N) và cân tịnh 02 viên nén hình trụ màu hồng được gói trong nilon màu tr ng thu giữ của Lường Văn N( Gói nilon thứ hai). Cân tịnh bột cục màu tr ng trong gói nilon thứ N xác định được khối lượng 0,02 gam tr ch r t toàn bộ 0,02 gam ký hiệu T1 gửi giám định chất và loại ma t y, cân tịnh 02 viên nén màu hồng trong gói nilon thứ N xác định được tổng khối lượng 0,23 gam tr ch r t toàn bộ 0,23 gam ký hiệu T2 gửi giám định chất và loại ma t y. Cân tịnh 02 viên nén màu hồng trong gói nilon màu tr ng thứ hai ( Thu của N) xác định được tổng khối lượng 0,23 gam tr ch r t toàn bộ 0,23 gam ký hiệu N1 gửi giám định chất và loại ma t y.

Tại Kết luận giám định số: 1356 /KL ngày 02/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma t y; loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,02 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T2 và N1 là ma t y; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là T2= 0,23 gam, N1= 0,23 gam. Tổng khối lượng ma t y thu giữ là 0,02 gam loại Heroine và 0,46 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đ sử dụng hết trong quá trình giám định.

Căn cứ Nghị định số: 19 /NĐ- CP ngày 02/2/2018 của Ch nh phủ quy định về việc t nh tổng khối lượng hoặc thể t ch chất ma t y tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng chất ma t y mà Lò Văn T tàng trữ trái phép là: 0,25 gam loại Heroine và loại Methamphetamine.

Ngày 30/7/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 151 ngày 30/7/2021 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định số tiền: 60.000 đồng thu giữ của Lường Văn N vào ngày 30/7/2021.

Tại Kết luận giám định số: 1362 ngày 03/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật. Hoàn lại đối tượng giám định: Toàn bộ số tiền gửi giám định.

Quá trình điều tra bị cáo Lường Văn N và Lò Văn T đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ph t ngày 29/7/2021, Lường Văn N đi bộ t nhà ở bản Lọng Cại, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu xuống bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu để tìm mua ma t y về sử dụng và bán kiếm lời. Khi N đến bản Thôm, xã Thôm Mòn thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái (N không biết tên và địa chỉ cư trú) một gói nilon màu tr ng bên trong có chứa Heroine và năm viên ma t y tổng hợp với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma t y, N cất gói ma t y vào t i quần đằng trước bên trái N đang mặc rồi đi bộ về nhà, sau đó N ngủ ở nhà một mình. Đến khoảng 08 giờ 00 ph t ngày 30/7/2021 khi N đang ở nhà một mình thì có Lò Văn T đi bộ đến hỏi mua Heroine và ma t y tổng hợp của N với số tiền 60.000 đồng, N đồng ý và cầm tiền T đưa rồi lấy gói ma t y đang cất ở trong t i quần đằng trước bên trái N đang mặc mở san ra ba viên ma t y tổng hợp và hết số Heroine gói lại bằng nilon màu tr ng đưa cho T, còn lại hai viên ma t y tổng hợp N gói lại bằng nilon màu tr ng cất vào t i quần đằng trước bên trái N đang mặc để sử dụng dần và bán kiếm lời. T cầm gói ma t y N đưa rồi xin N được sử dụng ma t y tại nhà của N, N đồng ý nên T san ra một t Heroine và một viên ma t y tổng hợp ( Trong gói ma túy vừa mua được của N) rồi cùng N sử dụng ma t y tại nhà của N, số Heroine và 02 viên ma t y tổng hợp còn lại thì T gói lại bằng nilon màu tr ng và cất vào t i quần đằng trước bên trái T đang mặc để sử dụng cho bản thân. Sau khi N và T v a sử dụng ma t y xong thì bị Tổ công tác Công an x huyện Thuận Châu đến yêu cầu kiểm tra ma t y, quá trình kiểm tra đ phát hiện thu giữ gói ma t y mà N và T đang cất giấu và thu giữ tang vật như đ nêu trên. Tổ công tác đ đưa N và T về trụ sở Ủy ban nhân dân x Thôm Mòn, huyện Thuận Châu lập biên bản b t người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó Lường Văn N và Lò Văn T cùng tang vật đ được dẫn giải về Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 144/CT-VKS ngày 10/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đ truy tố Lường Văn N tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố Lường Văn N về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma t y theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự. Truy tố Lò Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Lường Văn N, Lò Văn T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đ truy tố và th a nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đ ng người, đ ng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma t y .

Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lường Văn N t 24 đến 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Lường Văn N t 27 đến 30 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý.

Buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội t 51 đến 60 tháng tù. Thời hạn tù t nh t ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 30/7/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y.

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T t 16 đến 22 tháng tù. Thời hạn tù t nh t ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 30/7/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có : Hai mảnh nilon màu tr ng + một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Các vật chứng trên được cho vào cùng một phong bì thư niêm phong, dán k n; Một mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở không rõ hình dạng và một bật lửa ga nhựa màu xanh không rõ nh n hiệu đ qua sử dụng cũ.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước : Tiền Ngân hàng nhà nước Việt N: 60.000 đồng là tiền do phạm tội mà có.

Án phí : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Bị cáo Lường Văn N phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Lò Văn T thuộc hộ nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

Tại phiên tòa, Lường Văn N, Lò Văn T th a nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 30/7/2021 tại bản Lọng Cại, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu đ b t quả tang Lường Văn N và Lò Văn T về hành vi sau : Lường Văn N đ có hành vi bán trái phép một lượng ma t y với giá 60.000 đồng cho Lò Văn T, đồng thời đồng ý và chứa chấp cho Lò Văn T sử dụng ma t y tại nhà ở thuộc quyền quản lý của Lường Văn N, quá trình b t giữ đ thu giữ của Lường Văn N 0,23 gam chất ma t y, loại Methamphetamine nhằm mục đ ch để sử dụng và bán kiếm lời; Lò Văn T đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,25 gam chất ma t y, loại Heroine và loại Methamphetamine (Trong đó 0,02 gam Heroine và 0,23gam Methamphetamine) nhằm mục đ ch để sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn N tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với:

Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản b t người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

T các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi bán trái phép một lượng ma t y với giá 60.000 đồng cho Lò Văn T và tàng trữ 0,23 gam chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đ ch để sử dụng và bán kiếm lời đ phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi chứa chấp của Lường Văn N cho Lò Văn T sử dụng ma t y tại nhà ở thuộc quyền quản lý của Lường Văn N đ phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma t y theo khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Lò Văn T đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine và 0,23gam Methamphetamine nhằm mục đ ch để sử dụng cho bản thân của Lò Văn T đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma t y, gây mất trật tự, an ninh x hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm kh c nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lường Văn N và Lò Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn N, Lò Văn T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có 01 tiền án ( đ được xóa án t ch ) là nhân thân xấu.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lường Văn N không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 3 Điều 256 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo Lò Văn T không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đ ng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lường Văn N khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái tại bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu đ bán một lượng ma t y với giá 200.000 đồng cho N vào ngày 29/7/2021, nhưng do N không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cư tr của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án: Đối với một mảnh nilon màu tr ng + một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Một mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở không rõ hình dạng và một bật lửa ga nhựa màu xanh không rõ nh n hiệu đ qua sử dụng cũ là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy; Đối với tiền Ngân hàng nhà nước Việt N: 60.000 đồng là tiền do phạm tội mà có cần tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án ph : Bị cáo Lường Văn N phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Bị cáo Lò Văn T thuộc hộ nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

* Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma t y .

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lường Văn N 24 ( hai mươi tư ) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Lường Văn N 24 ( hai mươi tư ) tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý.

Buộc bị cáo Lường Văn N phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 48 ( bốn mươi tám ) tháng tù. Thời hạn tù t nh t ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 30/7/2021).

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể t ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

* Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y.

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 20 ( hai mươi ) tháng tù. Thời hạn tù t nh t ngày b t tạm giữ, tạm giam (ngày 30/7/2021).

Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể t ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ vào tại điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi : Vật chứng nhập kho vụ Lường Văn N cùng đồng bọn - Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma t y, b t ngày 30/7/2021. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 023777 đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị b t và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu bên trong có : Hai mảnh nilon màu tr ng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

+ Một mảnh giấy bạc bị đốt cháy dở không rõ hình dạng và một bật lửa ga nhựa màu xanh không rõ nh n hiệu đ qua sử dụng cũ.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước : Tiền Ngân hàng nhà nước Việt N: 60.000 đồng ( sáu mươi nghìn đồng ) đựng trong hòm tôn màu tr ng có k ch thước 27cm x 20cm x 12 cm và đóng n p hòm bằng khóa s t màu vàng, nh n hiệu VIỆT NHẬT, được dán niêm phong bằng băng d nh trong suốt, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của cơ quan điều tra công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ( Giấy niêm phong không bị rách, biến dạng, không bị mất, không bị biến dạng các thông tin ghi trong giấy niêm phong ). Tại phần mặt trên nắp hòm dùng băn d nh trong suốt dán một tờ giấy tr ng k ch thước 15 cm x 4cm ghi dòng chữ “ Vật chứng vụ án Lường Văn N, Lò Văn T Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma t y, b t ngày 30/7/2021.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Bị cáo Lường Văn N phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng ).

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ