vanban.org

Bản án 29/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 22/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Hạnh L (A), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2/ Về mức hình phạt: 3/ Xử lý vật chứng: áp khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Hạnh L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Hạnh L (A), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HSST
Ngày 22 tháng 10 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Trường Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Tú Phương

Bà Võ Tuyết Kha

- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Văn An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Hà Hạnh L, sinh năm 1985 tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Tên gọi khác: A.

Nơi cư trú: Ấp N, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Ngọc D, sinh năm 1950 (chết) và Lê Thị N, sinh năm 1951; Chồng: Chưa có. Con: gồm 02 người (lớn nhất 2008; nhỏ sinh năm 2011); tiền án: chưa có; tiền sự: chưa có; Nhân thân: tại bản án số 26/2015/HSST ngày 14/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chất hành xong hình phạt ngày 15/6/2016, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm gữ, tạm giam từ ngày 12/01/2021 đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Hữu H – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Tín Hoàng thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 03 giờ 00 phút ngày 12/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long kết hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bạc Liêu kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Hà Hạnh L (A), Trần Trí T và Trần Thị Diễm M đang có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà bà Lê Thị N (mẹ Hà Hạnh L) thuộc Ấp N, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, lực lượng Công an thu giữ một số vật chứng liên quan đến vụ việc.

Quá trình điều tra chứng minh được Hà Hạnh L (A) là người nghiện ma túy, loại ma túy L sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine). Ngày 10/01/2021, Hà Hạnh L ở nhà thuộc ấp N, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu có người bạn quen biết từ trước tên Ph ở thành phố Hồ Chí Minh điện thoại hỏi L có mua ma túy sử dụng không (số điện thoại lạ L không nhớ), L đồng ý mua với số tiền 2.500.000đ. Cả hai thỏa thuận hình thức giao nhận ma túy bằng cách Ph sẽ gửi ma túy thông qua xe khách từ Thành phố Hồ Chí Minh về Cà Mau đến địa phận xã V giao cho L, sau khi nhận ma túy L sẽ trả tiền cho người giao ma túy. Đến khoảng 17 giờ ngày 11/01/2021, nhân viên xe khách (không biết rõ họ tên, không rõ xe khách nào, ở đâu) điện thoại cho L và giao cho L một cái hộp, L đưa cho người thanh niên 2.500.000đ. Sau khi giao nhận xong, xe khách chạy về hướng Cà Mau còn L cầm cái hộp đi về nhà vào phòng ngủ mở hộp ra kiểm tra bên trong có 01 bịch nilon màu trắng có nẹp kẹp, đường viền màu đỏ, bên trong có 20 gói ma túy đá lớn nhỏ các loại, L lấy một ít ma túy trong gói ma túy lớn nhất ra để sử dụng, số ma túy còn lại L hàn kín và bỏ chung 20 gói ma túy vào bịch nilon, L cất giữ trong tủ, tại phòng ngủ của L. Vào khoảng 23 giờ ngày 11/01/2021, L lấy ra một gói ma túy bỏ vào trong dụng cụ sử dụng ma túy, số ma túy còn lại L bỏ vào trong túi quần bên phải của L đang mặc trên người. L chuẩn bị sử dụng ma túy, có Trần Thị Diễm M là bạn của L điện thoại hỏi xin sử dụng ma túy, L đồng ý nên M đi đến nhà của L cùng sử dụng ma túy. Khi M đến nhà của L, L gọi Trần Trí T (T là bạn của L đến nhà của L chơi từ lúc 15 giờ ngày 11/01/2021 và ngủ lại qua đêm tại nhà L) ra mở cửa cho M vào nhà và đi thẳng vào phòng ngủ của L, cả ba người cùng nhau sử dụng ma túy. Hà Hạnh L cùng với M và T sử dụng ma túy đến khoảng 03 giờ ngày 12/01/2021 thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, L sợ Công an phát hiện bịch ma túy trong túi quần nên L lấy bịch ma túy ra bỏ lên miếng Tol trong nhà vệ sinh trong phòng ngủ của L nhưng bịch ma túy bị rớt xuống nền gạch. Trong khi kiểm tra Công an phát hiện một bịch Nilon, bên trong bịch Nilon có 19 gói, bên trong mỗi gói có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên Công an lập biên bản bắt quả tang Hà Hạnh L cùng với Trần Trí T, Trần Thị Diễm M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (bút lục: 23, 24; 48, 49; 50 - 55).

Tại bản kết luận giám định số 19/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể bên trong 19 (mười chín) gói nylon gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; có tổng khối lượng là 8,41437gam (bút lục 27).

Cáo trạng số 30/CT-VKSPL ngày 30/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố Hà Hạnh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Hà Hạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Hạnh L mức án từ 05-06 năm tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Hạnh L mức án từ 07- 08 năm tù. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 12-14 năm tù

Về vật chứng: áp khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói Methamphetamine được niêm phong ký hiệu số 19/GĐ-2021, có 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, chữ ký tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc Kh thuộc Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) bình thủy tinh màu trắng, loại bình quả hồ lô, đế được làm bằng kim loại 03 (ba) chân màu trắng cao 45cm, được gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đen dài 1m 35; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có kích thước 12,5cm x 21cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 14cm; 01 (một) cây cân điện tử màu trắng đen có kích thước 4cm x 7,5cm; 20 (hai mươi) bịch nhựa màu trắng điều có kích thước 13cm x17cm bên trong không có chứa chất gì; 01 (một) ống nhựa màu trắng có kích thước dài 13cm; 01 (một) bút lông màu trắng xanh; 04 (Bốn) bật lửa đã qua sử dụng; 04 (Bốn) ống thủy tinh màu trắng mỗi ống thủy tinh có 01 (Một) đầu có dạng hình phễu; 01 (một) cân điện tử màu trắng, không có nắp đậy pin đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng màu đen; Tiền Việt Nam đang lưu hành số tiền: 9.307.000đ (bút lục 48, 49).

Đối với các tài liệu thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo, đã được trả lại cho các chủ sở hữu xong là có căn cứ. Đối với Trần Trí T và Trần Thị Diễm M, Lê Thị N không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hà Hạnh L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long không xử lý hình sự là có căn cứ. Đối với người tên Ph mà Hà Hạnh L khai đã mua ma túy của người này. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, không làm việc được với người tên Ph, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tách ra tiếp tục điều tra khi có căn cứ xử lý sau.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: bị cáo bị truy tố 02 tội theo quy định tại khoản 2 của mỗi tội là đúng người, đúng tội; đồng ý tội danh và điều luật áp dụng như quan điểm luận tội của kiểm sát viên; đồng ý đề xuất về việc xử lý vật chứng. Tuy nhiên, bị cáo được Giám đốc Công an thành phố Cần Thơ tặng Giấy khen vào ngày 10/01/2017 do có thành tích tham gia bắt giữ tội phạm cướp giật tài sản vào ngày 25/12/2016 nên đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có cậu ruột tên Lê Trung Th và bác ruột tên Hà Văn Y là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện cho bị cáo hưởng Điều 54 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử hạ khung hình phạt và cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Kiểm sát viên tranh luận: bị cáo chỉ được khen thưởng hình thức Giấy khen không phải là bằng khen hoặc huân, huy chương nên chưa thỏa mãn quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; cậu và bác ruột bị cáo là người có công với cách mạng nhưng bị cáo và những người này không có cùng sinh sống. Do đó, không chấp nhận quan điểm tranh luận đề nghị cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ của người bào chữa.

Bị cáo Hà Hạnh L thống nhất theo quan điểm của người bào chữa, bị cáo yêu cầu được nhận lại điện thoại và số tiền bị tạm giữ vì đây là tài sản bị cáo tiết kiệm có được, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại lời nói sau cùng: bị cáo đã nhận thức được sai phạm của mình, không biết được việc bản thân đưa ma túy cho người khác cùng sử dụng là phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo đã biết ăn năn về hành vi của mình đã thực hiện, xin được sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hà Hạnh L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra, từ đó đã chứng minh được: Ngày 10/01/2021, bị cáo Hà Hạnh L liên lạc qua điện thoại mua ma túy với người tên Phúc ở Thành phố Hồ Chí Minh (bị cáo không nhớ số điện thoại của Ph) với số tiền 2.500.000đ. Cả hai thỏa thuận hình thức giao nhận ma túy bằng cách Phúc sẽ gửi ma túy thông qua xe khách từ Thành phố Hồ Chí Minh về Cà Mau đến địa phận xã V giao cho L, sau khi nhận ma túy bị cáo L sẽ trả tiền cho người giao ma túy. Đến khoảng 17 giờ ngày 11/01/2021, nhân viên xe khách (không biết rõ họ tên, không rõ xe khách nào và ở đâu) điện thoại cho bị cáo L và giao cho bị cáo một cái hộp, bị cáo L đưa cho người thanh niên số tiền 2.500.000đ. Sau khi giao nhận xong xe khách chạy về hướng Cà Mau còn bị cáo L cầm cái hộp đi về nhà vào phòng ngủ mở hộp ra kiểm tra bên trong có 01 bịch nilon màu trắng có nẹp kẹp, đường viền màu đỏ, bên trong có 20 gói ma túy đá lớn nhỏ các loại, bị cáo lấy một ít ma túy trong gói ma túy lớn nhất ra để sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo L hàn kín và bỏ chung 20 gói ma túy vào bịch nilon, bị cáo cất giữ tại phòng ngủ của mình nhằm mục đích sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 19/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể bên trong 19 (mười chín) gói nylon gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; có tổng khối lượng là 8,41437gam (bút lục 27).

Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hà Hạnh L đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng số 30/CT-VKSPL, ngày 30/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố bị cáo Hà Hạnh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo L còn khai nhận: vào khoảng 23 giờ ngày 11/01/2021 khi bị cáo chuẩn bị sử dụng ma túy thì Trần Thị Diễm M là bạn của bị cáo điện thoại cho bị cáo xin sử dụng ma túy; bị cáo đồng ý và Trần Thị Diễm M đi đến nhà bị cáo. Bị cáo liền kêu Trần Trí T (là bạn ngủ qua đêm tại nhà bị cáo) ra mở cửa cho Diễm M. Bị cáo và Diễm M sử dụng ma túy đá tại phòng ngủ của bị cáo; Trần Trí T thấy bị cáo và Diễm M sử dụng ma túy nên xin sử dụng chung và được bị cáo đồng ý. Bị cáo, Diễm M và Trí T sử dụng ma túy đến thời điểm bị bắt quả tang; số lượng ma túy sử dụng là của bị cáo L, địa điểm sử dụng là tại phòng ngủ của bị cáo (do bị cáo sống chung nhà với mẹ ruột tên Lê Thị N); phương tiện, dụng cụ dùng để sử dụng ma túy là do bị cáo L chuẩn bị sẵn. Như vậy, bị cáo L là người cung cấp ma túy, bố trí địa điểm, phương tiện dụng cụ để thực hiện sử dụng trái phép chất ma túy nhằm đưa trái phép chất ma túy (Methamphetamine) vào cơ thể người khác và của chính bản thân bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của Trần Trí T và Trần Thị Diễm M (bút lục số 145-146; 147-148) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự.

Bị cáo L tổ chức cho chính bản thân bị cáo và 02 người khác sử dụng trái phép chất ma túy; vì vậy cáo trạng số 30/CT-VKSPL, ngày 30/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã biết ăn năn, hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo xác định bị cáo được Giám đốc Công an thành phố Cần Thơ tặng Giấy khen vào ngày 10/01/2017 do có thành tích tham gia bắt giữ tội phạm cướp giật tài sản vào ngày 25/12/2016; mặt khác bị cáo có bác ruột là ông Hà Văn Y là bác ruột và ông Lê Trung Th là cậu ruột là người có công với cách mạng, nên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Thấy rằng, người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua… Bị cáo chỉ được khen thưởng bằng hình thức Giấy khen do có thành tích tham gia bắt giữ tội phạm cướp giật tài sản vào ngày 25/12/2016 tại đường Trần Phú, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ; đây là việc ghi nhận tinh thần đấu tranh phòng chống tội phạm của bị cáo đã được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận quan điểm của người bào chữa về việc áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; chỉ có cơ sở chấp nhận cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Bị cáo đi mua ma túy về cất giấu để phục vụ nhu cầu sử dụng của bản thân và đã tổ chức cho 02 người khác sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện ý thức của bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, không mang tính lợi nhuận; bị cáo chưa ý thức được việc bản thân cho người khác cùng sử dụng ma túy chung với bị cáo là phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên chỉ cần xem xét áp dụng hình phạt ở mức khởi điểm đối với bị cáo ở hai tội là phù hợp. Bị cáo bị xét xử về hai tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung, buộc bị cáo phải chấp hành là phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói Methamphetamine được niêm phong ký hiệu số 19/GĐ-2021, có 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, chữ ký tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc Kh thuộc Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) bình thủy tinh màu trắng, loại bình quả hồ lô, đế được làm bằng kim loại 03 (ba) chân màu trắng cao 45cm, được gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đen dài 1m 35; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có kích thước 12,5cm x 21cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 14cm; 01 (một) cây cân điện tử màu trắng đen có kích thước 4cm x 7,5cm; 20 (hai mươi) bịch nhựa màu trắng điều có kích thước 13cm x17cm bên trong không có chứa chất gì; 01 (một) ống nhựa màu trắng có kích thước dài 13cm; 01 (một) bút lông màu trắng xanh; 04 (Bốn) bật lửa đã qua sử dụng; 04 (Bốn) ống thủy tinh màu trắng mỗi ống thủy tinh có 01 (Một) đầu có dạng hình phễu; 01 (một) cân điện tử màu trắng, không có nắp đậy pin đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng màu đen; Tiền Việt Nam đang lưu hành số tiền: 9.307.000đ (bút lục 48, 49).

Đối với các đồ vật thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo gồm 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 016178 tên chủ xe Phan Vũ H, ngụ ấp NH, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, biển kiểm soát 94E1 - 192.57; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 014705 tên chủ xe Nguyễn Phi M, biển kiểm soát 94E1 - 119.04; 01 (một) giấy phép lái xe số: AK 500850 tên Nguyễn Văn H1; 01 (một) giấy phép lái xe số 95 010 3004266 tên Nguyễn Phi M; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 385523925 tên Nguyễn Phi M; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 385612544 tên Huỳnh Văn Q; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 385552153 tên Nguyễn Văn H1, do không liên quan đến vụ án và đã được trả lại cho các chủ sở hữu xong là có căn cứ.

Xét quan điểm luận tội của kiểm sát viên là phù hợp một phần như Hội đồng xét xử phân tích nêu trên nên được chấp nhận một phần. Kiểm sát viên đề xuất không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp như nhận định tại đoạn [4] nên không được chấp nhận.

Xét quan điểm của người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; thấy rằng bị cáo chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Do đó, không có cơ sở chấp nhận đề nghị của người bào chữa.

Bị cáo Hà Hạnh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

. Đối với Trần Trí T và Trần Thị Diễm M, Lê Thị N không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long không xử lý hình sự là có căn cứ.

Đối với người tên Ph mà bị cáo khai đã mua ma túy của người này. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, không làm việc được với người tên Ph, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tách ra tiếp tục điều tra khi có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Hạnh L (A), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2/ Về mức hình phạt:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Hạnh L 05 (năm) năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Hạnh L 07 (bảy) năm tù.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp mức hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 12 (mười hai) năm tù; thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ 12/01/2021.

3/ Xử lý vật chứng: áp khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói Methamphetamine được niêm phong ký hiệu số 19/GĐ-2021, có 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, chữ ký tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc Kh thuộc Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) bình thủy tinh màu trắng, loại bình quả hồ lô, đế được làm bằng kim loại, 03 (ba) chân màu trắng cao 45cm, được gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đen dài 1m 35; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có kích thước 12,5cm x 21cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 14cm; 01 (một) cây cân điện tử màu trắng đen có kích thước 4cm x 7,5cm; 20 (hai mươi) bịch nhựa màu trắng điều có kích thước 13cm x17cm bên trong không có chứa chất gì; 01 (một) ống nhựa màu trắng có kích thước dài 13cm; 01 (một) bút lông màu trắng xanh; 04 (Bốn) bật lửa đã qua sử dụng; 04 (Bốn) ống thủy tinh màu trắng mỗi ống thủy tinh có 01 (Một) đầu có dạng hình phễu; 01 (một) cân điện tử màu trắng, không có nắp đậy pin đã qua sử dụng

Trả lại bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng màu đen; Tiền Việt Nam đang lưu hành số tiền: 9.307.000đ (Chín triệu ba trăm lẻ bảy nghìn đồng).

Vật chứng được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2021 và biên lai số 0001817 ngày 26/5/2021.

4/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Hạnh L nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ