vanban.org

Bản án 29/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 20/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Công Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Công Ng 18(Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/01/2021. 3/ Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Công Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HSST
Ngày: 20/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Minh và ông Bùi Đức Hiệp.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Triệu Thị Loan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2021/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 06/5/2021, đối với bị cáo Trịnh Công Ng , sinh năm 1993. Giới tính: Nam. Địa chỉ nơi ĐKHKTT và cư trú: Khu V, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên bố: Trịnh Xuân C. Họ tên mẹ: Phạm Thị T. Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ ba. Họ tên vợ: Tô Thị Ngọc Á. Bị cáo có một con sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương từ ngày 18/01/2021 đến ngày 20/01/2021. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày từ ngày 20/01/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn Tr , sinh năm 1984; địa chỉ: Khu Đ, thị trấn P, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

2. Phạm Văn D , sinh năm 1985; địa chỉ: Phố Đ, thị trấn P, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

3. Nguyễn Văn B , sinh năm 1994; địa chỉ: Khu V, phường P, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18/01/2021, Trịnh Công Ng điều khiển xe máy biển số 34D1-119.50 (Do Ng mượn của anh Nguyễn Văn B , sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu V, phường P, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) đi đến gần cầu vượt Quốc lộ 5 thuộc địa phận thôn P, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy đá với giá 300.000đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó Ng cầm gói ma túy ở tay phải rồi điều khiển xe máy về nhà. Hồi 12 giờ cùng ngày, khi Ng đi đến đoạn đường thôn P, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thì gặp Tổ công tác thuộc lực lượng Công an huyện Kim Thành đang làm nhiệm vụ tại thôn P, xã K, do sợ bị phát hiện, Ng liền buông tay bỏ gói giấy bên trong có túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng rơi xuống đường ngay tại vị trí Ng dừng xe. Ng khai nhận đó là ma túy đá do Ng vừa mua về mục đích sử dụng. Lực lượng công an đã tiến hành thu giữ số vật chứng nêu trên và quản lý chiếc xe máy biển số 34D1-119.50.

Tại bản Kết luận giám định số 99/KLGĐ - PC09 ngày 20/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận. Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có khối lượng 0,292 gam, là ma túy loại Methaphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,232 gam Methaphetamine được niêm phong số 99/KLGĐ-PC09.

Ngày 31/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã trả lại anh B chiếc xe máy biển số 34D1-119.50.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu liên quan đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành thu thập có trong hồ sơ vụ án

Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 19/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Trịnh Công Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như quá trình điều tra và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Công Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Công Ng từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/01/2021.

Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định được chứa bên trong 01(Một) phong bì số 99/KLGĐ-PC09 có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Công Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội:

Hồi 12 giờ ngày 18/01/2021, tại thôn P, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, bị cáo Trịnh Công Ng có hành vi cất giấu trái phép trong bàn tay phải 0,292gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về định khung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; căn cứ kết luận giám định số 99/KLGĐ-PC09 ngày 20/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có khối lượng 0,292 gam, là ma túy loại Methaphetamine.

Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ. Mục đích bị cáo Trịnh Công Ng tàng trữ ma túy để sử dụng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Từ những căn cứ trên, xác định: Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố và xét xử bị cáo Trịnh Công Ng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ở tất cả các khâu của quá trình quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội mà còn gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác làm ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung quỹ Nhà nước, song xét hoàn cảnh bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xác định mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định được chứa bên trong 01(Một) phong bì số 99/KLGĐ-PC09 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, là vật chứng của vụ án, vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Công Ng bị tuyên bố phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

* Đối với anh Nguyễn Văn B , khi cho Ng mượn xe máy, anh B không biết Ng sử dụng đi mua chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đã trả lại xe cho anh B và không đặt ra việc xử lý đối với anh B là phù hợp.

* Đối với người bán chất ma tuý cho Trịnh Công Ng , tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kim Thành không đủ căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Công Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Công Ng 18(Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/01/2021.

3/ Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định (0,232gam Methamphetamine) được chứa bên trong 01(Một) phong bì niêm phong số 99/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 26/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành).

4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Công Ng phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ