vanban.org

Bản án 29/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 482/2020/PC09 đựng ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tú…

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải nộp 200.000… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 482/2020/PC09 đựng ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tú…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HS-ST
Ngày 16-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Mai.

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1988 tại H. Nơi đăng ký thường trú: Số 8/183 Đ, phường Đ, quận L, thành phố H; tạm trú tại: Số 412 Lô 4, chung cư tổ 32 V, quận L, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Nguyễn Xuân B và bà Phạm Thị N; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 05/8/2020; tạm giam ngày 11/8/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 03/8/2020 Nguyễn Quốc H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của bạn là Mai Hồng V, sinh năm 1988; trú tại: Số 41 N, phường K, quận L, thành phố H hỏi mượn sạc điện thoại và nhờ cầm đến phòng 606 khách sạn Green số 5 đường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng. Trên đường H cầm sạc điện thoại đến cho V thì nảy sinh ý định mua ma túy đá để sử dụng một mình, nên H đi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn mua của một nam giới (không xác định được căn cước, lai lịch) 300.000 đồng ma túy đá (đựng trong 01 túi nilon màu trắng kích thước 1x1cm) và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (ống hút nhựa, coóng thủy tinh).

Khi đến phòng 606 khách sạn Green thì H thấy Hoàng Tuấn V, sinh năm 1984; đăng ký thường trú tại: Số 313 M, phường M, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đang ngủ trên giường, V đi vào nhà vệ sinh. Thấy thế, H lấy chai nước sẵn có trong phòng và dụng cụ mang theo (ống hút nhựa, coóng thủy tinh) chế thành bộ dụng cụ để một mình H sử dụng một ít ma túy đá của H chuẩn bị từ trước. Trong lúc cho ma túy đá vào bộ sử dụng thì H làm rơi một ít ra mặt tủ cạnh giường nên đã lấy vỏ giấy bạc của bao thuốc lá gói số ma túy đó lại thành gói có kích thước 0,5x3cm rồi cho vào túi quần sau bên trái. Một lúc sau, khi H đang mải chú ý vào điện thoại không để ý thì V tự ý sử dụng số ma túy vẫn còn trong bộ dụng cụ H để trên bàn mà không nói gì với H. Sau đó, V lấy gói cần sa của V chuẩn bị từ trước ra sử dụng một mình, số cần sa còn lại V để trên mặt tủ cạnh giường, việc này H có nhìn thấy. Đến sáng ngày 04/8/2020, V đi ra ngoài có việc, V đang ngủ, H tiếp tục sử dụng ma túy đá rồi để bộ dụng cụ vẫn còn ma túy dưới chân tủ đầu giường và để gọn túi nilon đựng ma túy đá của H và túi cần sa của V vào vỏ bao thuốc lá màu xanh nhãn hiệu “Raison Ice Cafe” rồi để trên mặt tủ đầu giường. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày V bảo H nhờ người mua hộ thuốc lá, H đã gọi điện cho bạn là Phạm Anh S, sinh năm 1993, trú tại: Số 66 Lê Văn Thuyết, phường Kênh Dương, quận Lê Chân Hải Phòng để nhờ mua nH S chưa mua được vì trời mưa, khi S lên phòng thì thấy H và V đang mải chơi điện tử, S thấy có bộ sử dụng ma túy đá ở chân tủ cạnh đầu giường và còn sẵn một ít ma túy nên tự ý mang vào nhà vệ sinh sử dụng một mình rồi để lại vị trí cũ. Đến 17 giờ 10 phút cùng ngày, khi H, V, S đang ngồi chơi thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, H cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào nhà vệ sinh, còn tay trái đang cầm 01 gói ma túy lấy từ trong túi quần ra. Tổ công tác tiến hành thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên và thu trong lòng bàn tay trái của H 01 gói giấy màu trắng, kích thước 0,5x3cm chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá (mẫu số 1); thu giữ trên mặt bàn cạnh giường 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh nhãn hiệu “Raise Ice Cafe” bên trong có 01 túi nilon kích thước 1x1cm chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá (mẫu số 2) vào 01 túi nilon màu trắng chứa thảo mộc khô nghi là cần sa (mẫu số 3). Ngoài ra, tổ công tác thu giữ của Nguyễn Quốc H 01 điện thoại Iphone 5s màu vàng, 01 điện thoại Gionee màu đen và số tiền 50.000 đồng; thu giữ của V 01 điện thoại iPhone XS max màu vàng, 01 điện thoại Nokia màu đen và số tiền 1.340.000 đồng; thu giữ của S 01 điện thoại iPhone 6 màu vàng. Sau đó tổ công tác đã dẫn giải H, V và S cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Kênh Dương lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 482/KLGĐ ngày 07/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 1 là ma túy có khối lượng 0,1 gam là loại Methaphetamine; tinh thể màu trắng của mẫu số 2 là ma túy có khối lượng 0,28 gam là loại Methaphetamine; thảo mộc khô của mẫu số 3 là ma túy, có khối lượng 1,08 gam, là loại cần sa.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc H, Mai Hồng V và Phạm Anh S khai nhận phù hợp nội dung trên. H không mời V và S sử dụng ma túy đá. Số cần sa V mang đến chỉ một mình V sử dụng. H và V không biết việc S sử dụng ma túy đá của H. H, V và S chưa sử dụng ma túy với nhau bao giờ. V không biết việc H, V và S cất giữ và sử dụng ma túy tại phòng 606 khách sạn Green. Ngoài ra:

Mai Hồng V khai: Số ma túyđá và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là của H. Gói nilon chứa cần sa là của V, V đã sử dụng một ít, số còn lại V để trên mặt tủ cạnh đầu giường. V không nhìn thấy H và S sử dụng ma túy, V không biết và không liên quan đến việc H cất giữ ma túy đá. Số cần sa trên, V mua của một nam giới không quen biết ở khu vực đường Quang Trung, quận Hồng Bàng, Hải Phòng khoảng 20 ngày trước với giá 200.000 đồng để về sử dụng cho bản thân, V không nói cho ai biết và cũng không mời ai sử dụng cần sa. V là người trực tiếp gặp lễ tân khách sạn là anh Hoàng Minh Đ, sinh năm 1997, trú tại: Số 52 Lê Chân, phường An Biên, quận Lê Chân, Hải Phòng thuê phòng 606 khách sạn Green từ khoảng 01 giờ ngày 03/8/2020 chỉ để nghỉ ngơi.

Phạm Anh S khai nhận phù hợp với lời khai của H và V. Khoảng 10 giờ ngày 04/8/2020 H gọi điện nhờ S mua thuốc lá, S không nhìn thấy V, H sử dụng ma túy trong phòng. Bộ dụng cụ có sẵn ma túy đá ở trong phòng, S không biết của ai nH nghĩ không đáng bao nhiêu nên tự ý sử dụng.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 25/01/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Gionee và số tiền 50.000 (năm mươi nghìn) đồng.

Đối với lượng ma túy 1,08 gam, là loại cần sa, Mai Hồng V khai nhận cất giữ với mục đích chỉ để sử dụng. Do trọng lượng ma túy chưa đủ để xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân ra Quyết định xử phạt hành chính đối với V về hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với việc H có hành vi để gọn gói cần sa của V vào vỏ bao thuốc lá màu xanh nhãn hiệu “Raison Ice Cafe”, nH không có mục đích cất giữ, cất giấu hay mục đích gì khác nên không đủ cơ sở kết luận.

Đối với Phạm Anh S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với việc Mai Hồng V, Phạm Anh S sử dụng ma túy do Nguyễn Quốc H mang đến, quá trình điều tra xác định mục đích H mang ma túy đến phòng 606 khách sạn Green chỉ để sử dụng cho bản thân, V và S tự ý sử dụng, V không mời V và S sử dụng và không có ý định cho V, S sử dụng ma túy của H nên không đủ căn cứ xử lý H về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Hoàng Tuấn V là người thuê phòng 606 khách sạn Green, công an phường M cung cấp, hiện gia đình V đã bán nhà đi đâu không rõ. Do chưa xác định được V đang ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục điều tra, xác minh.

Đối với nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Quốc H và Mai Hồng V, quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở điều tra.

Đối với Hoàng Minh Đức, quá trình điều tra xác định: Khi đồng ý cho V thuê phòng 606, Hiệp không biết H, V và S sử dụng phòng để làm địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Đức về hành vi trên.

Đối với khách sạn Green, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã có tờ trình đề nghị Ủy ban nhân dân quận Lê Chân xử lý hành chính về việc cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh để sử dụng trái phép chất ma túy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, nội dung bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Thể hiện: Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 04/8/2020, tại phòng 606 khách sạn Green, số 5 đường Kênh Dương, phường Dương Kinh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Quốc H đã có hành vi cất giữ trái phép tổng số 0,38 gam Methamphetamine để sử dụng cá nhân và bị bắt quả tang nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng, bà ngoại được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ V Nam anh hùng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng, 01 điện thoại Gionee màu đen và số tiền 50.000 đồng, xét là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nH tạm giữ số tiền 50.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 8 năm 2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 482/2020/PC09 đựng ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng đã cũ có số imel: 357997054093857, 01 điện thoại Gionee màu đen đã cũ có số imel: 865552025865589 và số tiền 50.000 đồng để đảm bảo thi hành án phần án phí. (Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng và Biên lai thu tiền số 0004731 ngày 26/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ