- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Mạnh phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VT TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HS-ST Ngày 13 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VT, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa
Ông Đặng Văn Minh.
-Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án nhân dân huyện VT.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc M, sinh ngày 25/9/2000; Nơi sinh và cư trú: Thôn TL, xã TT, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 và bà Phùng Thị Minh, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án: 01; Tại bản án số 17/2020/HSPT ngày 12/3/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, (bị cáo phạm tội trong thời gian chấp hành bản án cho hưởng án treo);
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/12/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Bị hại: Anh Bùi Minh Ch, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Ch, xã Nh, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Ngô Văn N, sinh năm 1976 (có mặt).
+ Anh Ngô Huy Ng2, sinh năm 1997 (có mặt).
Cùng trú tại: Thôn N, xã TT, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Người làm chứng:
+Anh Nguyễn Văn Nh, sinh năm 2004 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn HD, xã YL, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc;
+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn TL, xã TT, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 03/12/2020, Nguyễn Quốc M điều khiển xe mô tô loại Drem màu sơn nâu, không có biểm kiểm soát của ông Nguyễn Văn T (bố M) đón Nguyễn Văn Nh đi ăn cỗ cưới bạn là Phan Tuấn Vũ ở thôn Ch, xã Nh. Nh chở M đến nhà văn hóa thôn Ch, xã Nh, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đến nơi Nh dừng xe tháo bu gi để tắt máy (M cầm chìa khóa điện của xe từ trước do ổ khóa xe bị nhờn). Nh dựng xe ở hành lang bên phải ngoài cổng nhà văn hóa sau đó cùng M đi vào nhà văn hóa để dự đám cưới. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày sau khi ăn cưới xong M đi trước ra cổng nhà văn hóa đến chỗ để xe mô tô của M thì thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 88L1-031.80 của anh Bùi Minh Ch, trú tại xã Nh dựng cách xe mô tô của M khoảng 05 mét. Thấy không có người trông giữ, M nảy ý định trộm cắp chiếc xe trên. M thử cắm chìa khóa xe của M vào ổ khóa xe của anh Ch vặn mở theo chiều kim đồng hồ từ trái sang phải thì mở được khóa điện. Lúc này Nh đi từ trong đám cưới ra, M bảo Nh đi xe của M về nhà trước. Sau khi Nh về M ngồi lên yên xe mô tô biển kiểm soát 88L1-031.80 và dùng chìa khóa xe của M cắm vào ổ khóa điện mở khóa rồi lùi xe ra lòng đường đề nổ, sau đó điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được về nhà dựng xe ở sân và lấy cờ lê, tô vít tháo yếm và giá nhựa để hàng ở giữa xe và tháo biển số xe nhằm mục đích không để người khác phát hiện là xe M vừa trộm cắp. Thấy vậy ông Tuấn hỏi M xe của ai mà lại tháo phụ tùng của người ta thì M nói xe mượn của bạn. Sau đó M rủ Nh đi quảng trường ở thành phố Vĩnh Yên chơi. Nh chở M đi chơi đến 22 giờ cùng ngày thì về nhà M. Khi về đến cổng nhà M thì gặp anh Bùi Minh Ch và anh Ngô Huy Ng2 đang đợi ở nhà M. Anh Ch và anh Ng2 hỏi thì M thừa nhận đã trộm cắp xe máy của anh Ch tại nhà văn hóa thôn Ch, xã Nh. Anh Ch báo cáo Cơ quan Công an và tự nguyện giao nộp đăng ký xe mô tô số 053944 của xe mô tô biển kiểm soát 88L1-031.80 mang tên chủ xe Ngô Văn N để phục vụ công tác điều tra.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Quốc M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream màu sơn nâu trong tình trạng không có biển kiểm soát, không có yếm, không có giá để hàng ở giữa xe; 01 yếm xe màu trắng; 01 giá để hàng bằng nhựa màu đen; 01 biển số xe 88L1-031.80; 01 tô vít, 01 cờ lê; 01 chìa khóa xe mô tô.
Tại kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐGTTHS ngày 09/12/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện VT kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream màu sơn nâu trị giá 19.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 21/12/2020, Cơ quan điều tra trả cho ông Ngô Văn N là chủ sở hữu: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream màu sơn nâu; 01 yếm xe màu trắng; 01 giá để hàng bằng nhựa màu đen; 01 biển số xe 88L1-031.80; 01 giấy đăng ký xe mang tên Ngô Văn N. Nhận lại tài sản ông Năm và anh Ch không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSVT ngày 02/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện VT truy tố Nguyễn Quốc M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bị cáo M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị xác nhận Cơ quan điều tra trả tài sản cho ông Ngô Văn N.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 19 giờ ngày 03/12/2020, tại cổng nhà văn hóa thuộc thôn Ch, xã Nh, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc lợi dụng sơ hở Nguyễn Quốc M đã trộm cắp một 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream màu sơn nâu biển kiểm soát 88L1-031.80 đã qua sử dụng của anh Bùi Minh Ch. Tài sản trộm cắp theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trị giá 19.000.000 đồng.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án, phù hợp lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện VT. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Quốc M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng,... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyễn Quốc M, sinh năm 2000, năm nay 21 tuổi là người phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Lẽ ra phải phạt bị cáo với mức án cao, song xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại, ở Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử chỉ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo. Bị cáo M phạm tội trong thời gian thử thách của án treo, theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự bị cáo phải chấp hành hình phạt 01 năm tù của bản án số 17/2020/HSPT ngày 12/3/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hành phạt chung cho cả hai bản án.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp của anh Bùi Minh Ch, Cơ quan điều tra đã thu xe máy và trả cho ông Ngô Văn N (bố anh Ng2) là chủ sở hữu. Nhận lại tài sản ông Ngô Văn N và anh Bùi Minh Ch không ai có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Văn Nh cùng M đi đám cưới rồi M bảo về sau, Nh đi xe của M về trước. M không bàn bạc trao đổi với Nh về việc M trộm cắp xe mô tô, Nh cũng không biết M trộm cắp xe mô tô của anh Ch nên Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật.
Đối với ông Nguyễn Văn T là bố M, khi thấy M tháo yếm xe, biển kiểm soát, ông Tuấn hỏi M thì M nói xe mượn của bạn, ông Tuấn không biết nguồn gốc chiếc xe này do M trộm cắp nên Cơ quan Điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật.
Đối với chiếc tô vít và chiếc cờ lê là tài sản cuả ông Tuấn, ông Tuấn không biết M sử dụng vào việc trộm cắp tài sản, cơ quan Điều tra trả lại cho ông Tuấn là đúng pháp luật, nhận lại tài sản ông Tuấn không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc M 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù của bản án số 17/2020/HSPTngày 12/3/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc buộc bị cáo Nguyễn Quốc M phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 15/12/2020.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Quốc M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện VT; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục Thi hành án Dân sự H VT; - Công an huyện VT; - UBND xã TT; - Bị cáo + Người bị hại; Người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Công Sinh |