vanban.org

Bản án 29/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý A S 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/6/2021 đến ngày 03/7/2021 là 09 (chín) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "29-Ly A S- TTTTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
HUYỆN TAM ĐƢỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2021/HS-ST
Ngày: 16/9/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƢỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Thủy.

Ông: Hoàng Quang Vinh.

Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hóa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Lý A S – (tên gọi khác: Không), Sinh ngày: 07/3/1995 tại T, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Lý A C (đã chết); Con bà: Giàng Thị SS, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 02 anh, em ruột. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là: Lù Thị D, sinh năm 1992 và 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018 đều đã chết); Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/4/2021, Lý A S bị Chủ tịch UBND xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường 03 tháng, kể từ ngày 14/4/2021 đến ngày 14/7/2021 do S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 18/5/2021 Lý A S bị Công an xã SB ra Quyết định xử phạt hành chính do đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Lý A S bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/6/2021 đến ngày 03/7/2021. Từ ngày 03/7/2021 bị cáo S được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 02/10/2021 theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 43/LCĐKNCT-VPCQCSĐT, ngày 02/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lai Châu có thông báo giao bị cáo cho UBND xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu quản lý, theo dõi bị cáo theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 43/LCĐKNCT-VPCQCSĐT. “có mặt tại phiên tòa”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lù Thị D, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 24 tháng 6 năm 2021, Lý A S, sinh năm 1995, trú tại bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu đang ở nhà một mình thì có người đàn ông tên Đ (S đã gặp Đ nhiều lần nhưng không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của Đ) đến nhà để nhờ S chở đi huyện TUmua ma túy về cùng sử dụng. S nói không có tiền nhưng Đ bảo Đ có 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) nếu S chở đi mua ma túy thì về Đ sẽ chia cho S một ít để sử dụng nên S đã đồng ý. Lý A S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu đen, BKS 25N1- 015.37 chở Đ đi huyện TUmua ma túy. Khi đi qua cổng chào thị trấn TUkhoảng 100m thì Đ bảo S dừng xe và đứng chờ Đ, Đ đi đâu S không biết. Khoảng 05 phút sau Đ quay lại và nói với S đã mua được ma túy và đưa cho S xem một gói nilon màu trắng đốt dính một đầu, bên trong có bốn gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng. Đ nói với S là không có chỗ cất giấu thì S bảo Đ cất vào trong vết rách trên vai phải áo khoác của S đang mặc, Đ đồng ý. Sau khi cất giấu ma túy xong thì S tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Đ quay về. Khi đi đến ngã ba liên ngành, trước cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1962 thuộc bản TH, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu thì gặp lực lượng công an ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra, Đ đã nhảy ra khỏi xe chạy thoát. Quá trình kiểm tra Lý A S, lực lượng công an phát hiện trong vết rách trên vai phải áo khoác của S đang mặc có một gói nilon màu trắng đốt dính một đầu, bên trong có bốn gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng. S khai nhận, đây là Heroine của Đ, S vừa chở Đ đi mua ở huyện TUvề để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý A S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng có liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 32/KLGĐ, ngày 25/6/2021, của ông Phan Văn Huỳnh, người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo Quyết định công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Lai Châu kết luận:

- Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Lý A S trong mỗi gói có khối lượng là: Gói 1 có khối lượng 0,04 gam (không phẩy không bốn gam); Gói 2 có khối lượng 0,04 gam (không phẩy không bốn gam); Gói 3 có khối lượng 0,05 gam (không phẩy không năm gam); Gói 4 có khối lượng 0,04 gam (không phẩy không bốn gam);.

- Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Lý A S có tổng khối lượng là: 0,17 gam (không phẩy mười bảy gam)”

Tại bản Kết luận giám định chất ma túy số 564/GĐ-KTHS, ngày 29/6/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự , Công an tỉnh Lai Châu kết luận:

“04 (bốn) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M4) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.”

Ngoài số Heroine nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T còn tạm giữ của Lý A S vật chứng bao gồm: Xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu đen, BKS 25N1- 015.37 xe cũ, đã qua sử dụng và một áo khoác màu xanh, nhãn hiệu KAPPA, cỡ XXL trên vai áo bên phải có một vết rách nham nhở, áo cũ, đã qua sử dụng.

Hiện vật chứng còn lại đang được bảo quản, quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Việc thu giữ, tạm giữ vật chứng đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSTĐ, ngày 25/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Lý A S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lý A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lý A S từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khấu trừ 09 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn.

Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- Một phong bì niêm phong làm bằng phong bì Công văn do Công an huyện T phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu trắng và các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lý A S sinh năm 1995, HKTT: bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Mặt sau phong bì được dán kín mép bằng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của Trần Văn Vịnh, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Sý Văn Ớn, Nguyễn Sỹ Tùng và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lý A S. Trên mép của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện T.

- 01 (Một) chiếc áo khoác màu xanh nhãn hiệu KAPPA cỡ XXL, trên vai phải của áo khoác có một vết rách nham nhở có kích thước 07cm x 04 cm, áo cũ đã qua sử dụng.

Trả lại cho gia đình bị cáo: 01 (một) xe mô tô hiệu DETECH màu đen, BKS: 25N1-015.37, số khung RPEXCH8TECA156013, số máy VDEJQ152FMHB156013, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lý A S đã trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo. Đã phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án, hành vi, động cơ mục đích phạmtộicủa bị cáo, hành vi của bị cáo được phát hiện kịp thời, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhất thời phạm tội. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS trả lại cho gia đình bị cáo Lý A S một chiếc xe mô tô.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lý A S đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định:

Vào hồi 19 giờ 50 phút, ngày 24/6/2021 tại khu vực bản Tân Hợp, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tổ công tác Công an xã SB, huyện T phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Lai Châu làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Lý A S, sinh năm: 1995, trú tại: Bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,17 gam (Không phẩy mười bảy gam) Heroine với mục đích để sử dụng và thu giữ toàn bộ vật chứng như trên.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy nên đã thúc đẩy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát huyện T đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Nhà nước ta đang đấu tranh quyết liệt để loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt nghiêm khắc đối với những người nào có các hành vi liên quan đến ma túy, bị cáo nghiện chất ma túy nên đã đi cùng người khác mua ma túy về để được chia sử dụng cho nhu cầu bản thân; người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt nhưng bị cáo đã bị chính quyền địa phương áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường và bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Xét cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản gì đáng giá nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Nguồn gốc 0,17 gam "không phẩy mười bảy gam" Heroine bị Công an thu giữ. Lý A S khai nhận là của người đàn ông tên Đ nhờ S chở đi mua ở huyện TUvề, do Đ không có chỗ cất giấu nên S đã đồng ý cho Đ giấu vào vết rách trên vai phải áo khoác của S đang mặc. Do không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của người đàn ông tên Đ nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ trong vụ án này;

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu đen, BKS 25N1 - 015.37, số khung RPEXCH8TECA156013, số máy VDEJQ152FMHB156013, xe cũ đã qua sử dụng (Đây là xe mà S đã chở Đ đi huyện TUmua ma túy vào ngày 24/6/2021) là tài sản chung của vợ chồng. Việc S lấy xe để chở Đ đi mua ma túy, chị Lù Thị D (vợ của S) không biết nên không đề cập xử lý trong vụ án này;

Đối với chiếc áo khoác màu xanh, nhãn hiệu KAPPA, cỡ XXL, trên vai phải của áo khoác có một vết rách nham nhở có kích thước 07cm x 04cm, áo cũ đã qua sử dụng là chỗ để Lý A S cất giấu Heroine, vì vậy là vật chứng của vụ án.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng:

Đối với:

- Một phong bì niêm phong làm bằng phong bì Công văn do Công an huyện T phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu trắng và các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lý A S sinh năm 1995, HKTT: bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Mặt sau phong bì được dán kín mép bằng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của Trần Văn Vịnh, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Sý Văn Ớn, Nguyễn Sỹ Tùng và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lý A S. Trên mép của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Đường.

- 01 (Một) chiếc áo khoác màu xanh nhãn hiệu KAPPA cỡ XXL, trên vai phải của áo khoác có một vết rách nham nhở có kích thước 07cm x 04 cm, áo cũ đã qua sử dụng.

Là công cụ bị cáo dùng để phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu DETECH màu đen, BKS: 25N1-015.37, số khung RPEXCH8TECA156013, số máy VDEJQ152FMHB156013, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong là của gia đình bị cáo, khi bị cáo S lấy xe để chở Đ đi mua ma túy chị Lù Thị D (vợ của S) không biết nên trả lại cho gia đình bị cáo. [4] Án phí:

Áp dụng điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí xét nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A S.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý A S 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/6/2021 đến ngày 03/7/2021 là 09 (chín) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy:

- Một phong bì niêm phong làm bằng phong bì Công văn do Công an huyện T phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh nilon màu trắng và các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lý A S sinh năm 1995, HKTT: bản N, xã SB, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Mặt sau phong bì được dán kín mép bằng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của Trần Văn Vịnh, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Sý Văn Ớn, Nguyễn Sỹ Tùng và điểm chỉ ngón trỏ phải của Lý A S. Trên mép của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Đường.

- 01 (Một) chiếc áo khoác màu xanh nhãn hiệu KAPPA cỡ XXL, trên vai phải của áo khoác có một vết rách nham nhở có kích thước 07cm x 04 cm, áo cũ đã qua sử dụng.

Trả lại: 01 (một) xe mô tô hiệu DETECH màu đen, BKS: 25N1-015.37, số khung RPEXCH8TECA156013, số máy VDEJQ152FMHB156013, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong là của gia đình bị cáo, cho gia đình bị cáo (đại diện là Lù Thị D, vợ của bị cáo).

Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lai Châu.

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5, Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ