vanban.org

Bản án 29/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 30/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Căn cứ vào điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 54; điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng L 01 (một) năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/10/2021. 2/. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý O không yêu cầu bị cáo Lâm Hoàng L bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/. Căn cứ vào điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 54; điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________
Bản án số: 29/2021/HS-ST
Ngày 29-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Thanh Chiều.

2. Ông Nguyễn Hồng Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Lâm Hoàng L(tên gọi khác: T), sinh năm 1995; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Lâm Hoàng L và bà Lý Thị Ngọc T; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16-7-2021. Đến ngày 21-10-2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt để tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

+ Ông Lâm Hoàng L; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

+ Bà Lý Thị Ngọc T; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Thu là: Ông Lâm Hoàng Lg; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Ninh – Trợ giúp viên Pháp Lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị hại: Lý O, sinh năm: 1988; Giới tính: Nam; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Lý N, sinh năm: 1931; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

+ Bà Danh Thị H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

+ Ông Triệu Hoàng P, sinh năm: 2001; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 08-3-2021, Lý O nhậu về thì cãi nhau với vợ là Danh Thị H. Huyền điện thoại cho ông nội của Lý O là Lý N cũng là ông ngoại của Lâm Hoàng Liên. Sau đó ông Nưng qua nhà của Lý O thì Lâm Hoàng Lcùng đi theo, khi đi Liên mang theo 01 cây dao loại dùng để phát cỏ. Khi đến nhà Lý O khoảng 20 giờ cùng ngày, ông Nưng ngồi chỗ hàng ba nhà của Lý O, Liên để cây dao ở ngoài góc hàng ba nhà Lý O, khi vào nhà gặp Lý O, Liên và Lý O có lời qua tiếng lại. Sau đó, Liên ra ngoài lấy cây dao chạy vào chém trúng tay trái của Lý O, Lý O tiếp tục thách thức Liên “chém nữa đi” và xoay người đấm vào mặt Liên một cái, Liên tiếp tục cầm dao chém Lý O thêm hai nhát vào cánh tay trái và quơ trúng sau lưng Lý O nhưng không gây thương tích rồi Liên bỏ đi. Lý O được đưa tới Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng điều trị từ ngày 08-3-2021 đến ngày 15-3-2021 thì xuất viện.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 128/TCT-PY ngày 15/4/2011 của Trung tâm pháp Y- Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng kết luận: Lý O, sinh năm 1988 giới tính (nam), địa chỉ Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo xuôi mặt sau khuỷu trái, kích thước 16cm x 0,5cm. Đã được phẫu thuật nối gân cơ tam đầu tay trái, sẹo gây hạn chế chức năng co duỗi khớp khuỷu trái. X quang: Bong Vỏ xương khuỷu trái; Căn cứ vào Bảng 1, Chương 8, Mục I Phần 3. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 0,3% ( Ba phần trăm); Bảng 1, Chương 8, Mục II, Phần 6. Tỉ lệ tổn thương là 07% (Bảy phần trăm) và Bảng I, Chương 7 + Nguyên tắc 1. Tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03% ( Ba phần trăm).

2. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ y tế hiện tại là: 13% (Mười ba phần trăm)

3. Kết luận khác: Thương tích do vật sắc gây nên ( Bút lục số 58-59).

* Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 452/KL của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận: Lâm Hoàng Liên, sinh năm 1995 ngụ ấp Bưng Cốc, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng:

- Về Y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi do rượu (F10.71-ICD.10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại phiên tòa bị hại Lý O trình bày: Sự việc xảy ra ngày 08-03-2021 giữa bị cáo và bị hại đều có sử dụng rượu, bị hại có đánh bị cáo vào mắt và khi bị cáo chém 01 dao vào bị hại thì bị hại có nói “chém nữa đi”. Tại tòa về trách nhiệm hình sự bị hại yêu cầu xét xử bị cáo Lâm Hoàng Ltheo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự chi phí điều trị khoảng 2.000.000 đồng, nhưng hiện nay do hoàn cảnh của Lâm Hoàng Lkhó khăn nên bị hại không yêu cầu Lâm Hoàng Lvề trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Hoàng Ltrình bày: Bị cáo Liên thừa nhận có hành vi gây thương tích cho bị hại Lý O. Đồng thời tại phiên tòa bị cáo Liên thống nhất với bản cáo trạng và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Hoàng L đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Lý Thị Ngọc T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo Lâm Hoàng Liên.

Tại phiên tòa, người làm chứng Danh Thị H trình bày: Diễn biến sự việc xảy ra việc Lâm Hoàng L gây thương tích cho bị hại O như thế nào thì bà Huyền không chứng kiến. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người làm chứng Triệu Hoàng P trình bày: Triệu Hoàng P và Lý O nhà gần nhau, vào khoảng 20 giờ ngày 08-03-2021 Phong nghe tiếng người nói Liên chém O nhưng không biết rõ là ai nói. Sau đó P ra xem thì thấy O bị thương khuỷu tay trái nên ông P chở O đi bệnh viện, còn L thì P không nhìn thấy, ngoài ra ông P không biết thêm.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSMT ngày 22-11-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lâm Hoàng L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng vào điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm q, s; Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo ông Nguyễn Văn Ninh trình bày: Đề nghị xét xử bị cáo 01 năm 06 tháng tù và đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, người làm chứng Lý N vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì người làm chứng đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với người làm chứng Lý N.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại đối với hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

. Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Hoàng L đã khai nhận: Ngày 08-3-2021, Lý O nhậu về thì cãi nhau với vợ là Danh Thị H. Huyền điện thoại cho ông nội của Lý O là Lý N cũng là ông ngoại của Lâm Hoàng L. Sau đó ông N qua nhà của Lý O thì Lâm Hoàng L cũng đi theo, khi đi L mang theo 01 cây dao loại dùng để phát cỏ. Khi đến nhà Lý O khoảng 20 giờ cùng ngày, ông N ngồi chỗ hàng ba nhà Lý O, còn L để cây dao ở ngoài góc hàng ba nhà Lý O, khi vào nhà gặp Lý O, Liên và Lý O có lời qua tiếng lại. Sau đó, Liên ra ngoài lấy cây dao chạy vào chém trúng tay trái của Lý O, Lý O tiếp tục thách thức Liên “chém nữa đi” và xoay người đấm vào mặt Liên một cái, Liên tiếp tục cầm dao chém Lý O thêm 02 (hai) nhát vào cánh tay trái và quơ trúng sau lưng Lý O nhưng không gây thương tích rồi Liên bỏ đi.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên hỏi bị cáo Liên Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích có oan, sai cho bị cáo hay không, bị cáo có phạm tội hay không thì bị cáo trả lời “không oan, sai; có cầm dao chém bị hại Ol là phạm tội”.

. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Đối với bị cáo Lâm Hoàng L đã dùng dao là loại hung khí nguy hiểm chém vào tay trái của bị hại O gây thương tích, qua giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lâm Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại O nhưng chỉ vì trong lúc tức giận bị cáo đã dùng dao chém và gây thương tích cho bị hại O theo kết quả giám định thương tích là 13%. Bị cáo với bị hại là anh em họ và bị cáo cũng không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại nên bị cáo phạm tội thuộc các tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm”, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan, không sai cho bị cáo.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được sức khỏe, thân thể của người khác là bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm hại, gây tổn hại đến sức khỏe, thân thể của người khác đều bị pháp luật trừng trị nhưng chỉ vì trong lúc tức giận mà bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, bị cáo đã dùng cây dao đem theo sẵn trong người, chém vào cơ thể bị hại Ol và gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về cơ thể của người khác do pháp luật hình sự bảo vệ, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung đối với mọi người là phải biết cách xử sự với nhau có chừng mực, phù hợp với quy tắc xử sự trong cuộc sống.

. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Đồng thời tại thời điểm gây án bị cáo Lâm Hoàng Lbị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra, do bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên; bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; Bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đồng thời người bị cáo gây thương tích là anh họ của bị cáo, tại tòa bị hại cũng thừa nhận có đánh bị cáo và thách bị cáo “chém nữa đi”. Bên cạnh đó khi xảy ra vụ việc cả bị cáo và bị hại đều sử dụng rượu. Tại phiên Tòa vị Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo 2 năm đến 2 năm 6 tháng có phần nghiêm khắc với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử bị cáo dưới mức khung hình phạt. Mức hình phạt như vậy là đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa lỗi lầm, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước ta đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý O không yêu cầu bị cáo Lâm Hoàng Lbồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Không có.

. Xét lời nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở chấp nhận một phần như đã phân tích nêu trên.

. Về án phí: Bị cáo Lâm Hoàng L không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Căn cứ vào điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 54; điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng L 01 (một) năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/10/2021.

2/. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý O không yêu cầu bị cáo Lâm Hoàng L bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3/. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lâm Hoàng Lkhông phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

4/. Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.

Cỡ chữ