- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HS - ST Ngày 25/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Văn Thiết
2. Bà Long Thị Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Học – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/TLST - HS ngày 21/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST- HS ngày 11/8/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác không); sinh năm 1992; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và con bà Trương Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 356/QĐ-XPHC ngày 09/12/2013 của Trưởng Công an huyện Chợ Đồn xử phạt Nguyễn Mạnh T 750.000 đồng về hành vi “c ý gây thư ng t ch”, bị cáo đã thi hành xong ngày 09/12/2013; bị tạm giữ từ ngày 28/03/2021 đến ngày 06/04/2021 thì được hủy bỏ, chuyển áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh T: Ông Hà Văn T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nông Văn T; Sinh năm 1986; Trú tại: Thôn B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/3/2021, Tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường liên xã thuộc Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về một đối tượng đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác tiến hành kiểm tra và xác định đã phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Mạnh T thu giữ toàn bộ tang vật gồm:
- 01 (một) bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long bên trong có: 01 (một) mảnh giấy màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng chứa cục và bột màu trắng do bị cáo T đưa ra từ túi trong bên trái áo khoác ngoài của bị cáo T đang mặc. Tiến hành trích mẫu chất bột màu trắng trên vào thuốc thử phát hiện nhanh chất ma túy (thu c thử Heroine). Kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine. Tổ công tác tiến hành niêm phong toàn bộ những đồ vật trên vào phong bì ký hiệu T1.
Ngoài ra còn tạm giữ 01 (một) xe mô tô HONDA WAVE α màu đỏ đen, BKS 97 F8 - 9383; Quá trình điều tra tạm giữ thêm 01 (một) bản gốc đăng ký mô tô, xe máy, số 012107, do Công an tỉnh Cấp ngày 05/01/2011, tên chủ xe Triệu Ứng H.
Hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình phụ cận đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T. Qua khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng hồi 14 giờ 15 phút, ngày 28 tháng 3 năm 2021 xác định: Phong bì niêm phong ký hiệu T1 có 01 (một) bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long bên trong có: 01 (một) mảnh giấy màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng chứa cục và bột màu trắng. Cân cả gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng chứa cục và bột màu trắng có khối lượng là 0,21g (không phẩy hai một gam). Cân riêng số cục và bột màu trắng có khối lượng là 0,15g (không phẩy một năm gam). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã niêm phong trong 01 (một) phong bì mới ký hiệu T2 để gửi giám định; Còn vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu T1; 01 (một) bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long; 01 (một) mảnh giấy màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng cho vào trong phong bì mới niêm phong ký hiệu T3.
Tại Kết luận giám định số: 74/KTHS-MT ngày 02 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu cục và bột màu trắng bên trong phong bì ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có kh i lượng 0,15g (không phẩy một năm gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T2 còn lại: 0,12g (không phẩy một hai gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào trong phong bì mới ký hiệu T74.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Mạnh T khai nhận: 01 (một) gói nhỏ có chứa cục và bột màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do bị cáo mua về để sử dụng cá nhân. Cụ thể: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28 tháng 3 năm 2021, bị cáo đang ở nhà thì lên cơn nghiện ma túy, bị cáo sang nhà anh Nông Văn Tr là người cùng thôn, mượn chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WAVE α, biển kiểm soát 97F8- 9383 để đi tìm mua ma túy về sử dụng. Sau khi mượn được xe bị cáo một mình điều khiển xe đi lên khu vực cổng Trung tâm y tế huyện C để tìm mua ma túy. Tại đây bị cáo gặp một người đàn ông lạ mặt (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) có biểu hiện nghiện ma túy nên bị cáo có hỏi mua ma túy thì được người đàn ông này bán cho 01 (một) gói nhỏ ma túy với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Mua được ma túy bị cáo để vào trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi cất giấu vào túi áo trong bên trái đang mặc, tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng, khi đi đến khu vực đường liên xã thuộc tổ A, thị trấn B thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện bắt quả tang, thu giữ tòan bộ số ma túy.
Vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy (heroine) thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh T sau khi trích giám định còn lại 0,12g (không phẩy một hai gam) cùng phong bì và bao gói cũ được niêm phong trong một phong bì ký hiệu T74 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 01 (một) phong bì ký hiệu T3 bên trong có 01 (một) bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long; 01 (một) mảnh giấy màu bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; Giấy gói ban đầu tạm giữ được của Nguyễn Mạnh T và vỏ phong bì ký hiệu T1. Hiện được tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện C chờ xử lý
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α màu đỏ đen, BKS 97 F8-9383 và 01 (một) bản gốc đăng ký mô tô, xe máy, số 012107, do Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 05/01/2011, tên chủ xe Triệu Ứng H. Quá trình điều tra xác định xe mô tô và đăng ký mô tô trên là thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nông Văn Tr. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Tr.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT - VKSCĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 12 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu T74 (Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 0,12g ma túy còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ)); 01 (một) phong bì ký hiệu T3 (Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn, 04 (bốn) chữ ký không đọc được và các dòng chữ Khương Danh T, Văn Tiến B, Nguyễn Viết H, Nguyễn Mạnh T (bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG; 01 (một) mảnh giấy bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; giấy gói ban đầu tạm giữ được của Nguyễn Mạnh T và vỏ phong bì ký hiệu T1)). Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Về tội danh và về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về hình phạt bổ sung và án phí mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến việc bị cáo thật sự ăn năn hối cải và là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để quyết định xử phạt đối với bị cáo mức từ 12 đến 15 tháng tù.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn Tr khai đã nhận được tài sản bị tạm giữ nên không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh T khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28 tháng 03 năm 2021, tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện C, bị cáo Nguyễn Mạnh T đã có hành vi mua trái phép với một người đàn ông không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ 01 (một) gói nhỏ ma túy (heroine) với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) với mục đích để sử dụng cá nhân. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo T đi đến khu vực thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên người 0,15g (không phẩy một năm gam) ma túy (heroine).
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,15g (không phẩy mười lăm gam) ma túy Heroine của bị cáo T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 28/CT - VKSCĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính thì theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy (heroine) thu giữ của Nguyễn Mạnh T sau khi trích giám định còn lại 0,12g (không phẩy mười hai gam) thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong ban đầu ký hiệu T1; 01 (một) phong bì ký hiệu T74; 01(một) phong bì ký hiệu T3 (bên trong có 01 (Một) vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG; 01 (một) mảnh giấy bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; giấy gói ban đầu tạm giữ được của Nguyễn Mạnh T và vỏ phong bì ký hiệu T1).
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α màu đỏ đen, BKS 97 F8-9383 được bị cáo T sử dụng vào việc đi mua ma túy và 01 (một) bản gốc đăng ký mô tô, xe máy, số 012107, do Công an tỉnh Cấp ngày 05/01/2011, tên chủ xe Triệu Ứng H, quá trình điều tra xác định xe mô tô và đăng ký mô tô này là do bị cáo mượn của anh Nông Văn Tr, khi bị cáo mượn xe thì anh Tr không biết bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Ngày 07/4/2021, anh Tr có đơn xin lại chiếc xe mô tô trên và giấy tờ kèm theo nên ngày 30/6/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại chiếc xe trên và giấy tờ kèm theo cho anh Tr chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định pháp luật. Anh Nông Văn Tr không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông, không rõ họ tên, địa chỉ là người đã bán ma túy (Heroine) cho bị cáo T tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Chợ Đồn. Kết thúc điều tra bị cáo T không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh T là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 12 mười hai tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ là 09 ngày (kể từ ngày 28/3/2021 đến ngày 06/4/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu T74. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 0,12g ma túy còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ); 01 (một) phong bì ký hiệu T3. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn, 04 (bốn) chữ ký không đọc được và các dòng chữ Khương Danh T, Văn Tiến B, Nguyễn Viết H, Nguyễn Mạnh T (bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG; 01 (một) mảnh giấy bạc; 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; giấy gói ban đầu tạm giữ được của Nguyễn Mạnh T và vỏ phong bì ký hiệu T1).
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày
giữa C quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
4. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND Chợ Đồn; - Công an Chợ Đồn; - THADS Chợ Đồn; - Người tham gia tt; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Văn Mẫn |