- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HS-ST Ngày 06-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Văn Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Như Thoa.
Bà Tô Thị Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thúy Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Văn Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08 tháng 6 năm 1985, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn S (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ; có vợ là Bạch Thị T, sinh năm 1983; con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử lý hình sự; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 12 năm 2020 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bạch Thị T, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn Q là người nghiện ma túy. Sáng ngày 23-12-2020, Hoàng Văn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F9-74xx từ nhà đi đến khu vực ngã ba đổi tiền thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn và gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm, Q hỏi người đàn ông làm nghề xe ôm "có bán ma túy không, người đàn ông làm nghề xe ôm trả lời là có và bảo Q đưa tiền trước". Hoàng Văn Q đưa 500.000 đồng cho người đàn ông làm nghề xe ôm và đi vào quán nước ngồi chờ. Trong khi ngồi chờ, Hoàng Văn Q sử dụng điện thoại di động gọi vào số điện thoại của Đ là người bán túy do trước đó có người nghiện ma túy là N cho Q số điện thoại của Đ. Đ đồng ý bán ma túy cho Hoàng Văn Q. Sau đó, Hoàng Văn Q ra cổng trường cấp 3 Đ, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mua với Đ 01 (một) gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy với Đ, Hoàng Văn Q xóa số điện thoại của Đ rồi đi đến ngôi nhà hoang ở khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, Hoàng Văn Q quay trở lại quán nước ở ngã ba đổi tiền để đợi người đàn ông làm nghề xe ôm. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, người đàn ông làm nghề xe ôm đến và đưa cho Hoàng Văn Q 01 (một) gói giấy có dòng kẻ bên trong chứa ma túy. Hoàng Văn Q mang gói giấy có chứa ma túy đến ngôi nhà hoang mà Q đã sử dụng ma túy mua với Đ và chia số ma túy ra thành 10 (mười) gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, có một người đàn ông gọi điện thoại cho Hoàng Văn Q hỏi mua ma túy, Q đồng ý bán và hẹn ra khu vực sân bóng thuộc khu V, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Trong khi chờ đợi người đàn ông đến mua ma túy như đã hẹn thì Hoàng Văn Q bị Tổ kiểm soát cơ động Đồn Biên phòng Cửa khẩu H bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 mảnh giấy có dòng kẻ, bên trong chứa 10 gói giấy nhỏ màu trắng, trong 10 gói giấy nhỏ đều có chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 97F9-74xx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ đã qua sử dụng, IMEI1: 860146041344094; IMEI2: 860146041334086.
Trong quá trình điều tra, Hoàng Văn Q khai nhận ngày 17-12-2020 có mua 500.000 đồng ma túy với người đàn ông làm nghề xe ôm đem về chia nhỏ để sử dụng và bán cho 02 người không quen biết mỗi người 02 gói với giá 100.000 đồng/gói. Tuy nhiên, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề nghị xử lý hành vi này của Hoàng Văn Q, do không có chứng cứ nào khác ngoài lời khai của Q.
Tại Bản kết luận giám định số 34/KL-PC09 ngày 24-12-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,368 gam, đã trừ bì.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 06-4-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 02 năm đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,319 gam Heroine; tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 97F9-74xx; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ đã qua sử dụng, số IMEI1: 860146041344094; IMEI2: 860146041334086.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện ăn năn, hối hận về việc làm của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Bạch Thị T không có ý tranh luận với đề nghị của Kiểm sát viên về việc đề nghị tịch thu sung công quỹ đối với chiếc xe mô tô bị thu giữ. Do chiếc xe mô tô bị thu giữ là do bị cáo Hoàng Văn Q tự bỏ tiền ra mua, chị không có đóng góp gì, không trực tiếp chiếm giữ, quản lý, sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận ngày 23-12-2020, bị cáo Hoàng Văn Q là người thực hiện hành vi mua 0,368 gam ma túy Heroine và chia thành 10 (mười) gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán cho người khác để kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định của Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Ông ngoại của bị cáo là ông Hoàng Ngọc C là người có công với cách mạng. Tuy nhiên, người trực tiếp thờ, cúng ông Hoàng Ngọc C là bà Hoàng Thị Đ (mẹ của bị cáo Hoàng Văn Q), nên bị cáo không đủ điều kiện để được áp dụng tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử lý hình sự nên được coi là có nhân thân tốt.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận ngày 17-12-2020 có mua 500.000 đồng ma túy với người đàn ông làm nghề xe ôm đem về chia nhỏ để sử dụng và bán cho 02 người không quen biết mỗi người 02 gói với giá 100.000 đồng/gói. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác và không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội, nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề nghị xử lý hành vi này của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ xử lý bị cáo về hành vi này.
Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm và bán ma túy cho bị cáo, người tên Đ, người tên N, người mua ma túy với bị cáo do không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Đối với chất ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đỏ, 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97F9-74xx thu giữ của bị cáo đều được bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi mua bán ma túy và vợ của bị cáo là chị Bạch Thị T thừa nhận bị cáo tự bỏ tiền ra mua, chị không có đóng góp gì, không trực tiếp chiếm giữ, quản lý, sử dụng nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự 2015.
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, nộp, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23 tháng 12 năm 2020.
3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn Q.
4. Về vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy 0,319 gam Heroine được đựng trong 01 (một) gói giấy ở trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "ĐỒN BIÊN PHÒNG CKQT HỮU NGHỊ" có chữ ký cùng tên của giám định viên H, trợ lý giám định và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.
Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 (một) xe mô tô màu đen đã qua sử dụng, biển kiểm soát 97F9-74xx số khung CH8PE9A114608, số máy 152FMHB114608; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ đã qua sử dụng, số IMEI1: 860146041344094; IMEI2: 860146041334086.
(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn. - Sở Tư pháp, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc; - Công an huyện Cao Lộc; - Chi cục THADS huyện Cao Lộc; - Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Lợi Trịnh Thị Như Thoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Văn Nghiệp Hứa Văn Nghiệp |