- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn Thị Trúc N-Ngô Thành L"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 29/2021/HNGĐ-ST Ngày : 20/04/2021 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
* Các Hội thẩm nhân dân : Ông Đinh Gia Bảo
Ông Nguyễn Văn Hùng
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Thúy - CBTA
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa :
Ông Nguyễn Hữu Cường - KSV.
Hôm nay, ngày 20 tháng 04 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số : 466/2020/TLST-HNGĐ ngày 27/11/2020 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXX-ST ngày 15/03/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 27/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31/03/2021 giữa các đương sự sau:
* Nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị Trúc N - Sinh năm 1993.
Trú tại : Thôn Thủy X - Suối H - DK
ĐCLL : Tổ 5 - Thôn Cư Th - Suối H - DK
( Có mặt )
* Bị đơn : Anh Ngô Thành L - Sinh năm 1982.
Trú tại : Thôn Thủy X - Suối H - DK.
( Vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN :
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc N trình bày :
Tôi và anh Ngô Thành L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013 có làm đăng ký kết hôn tại UBND xã Suối H - DK, vợ chồng tôi có 01 con chung là :
Ngô Anh Kh - Sinh ngày 30/08/2015.
Trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng không đồng quan điểm với nhau về nhiều mặt dẫn đến kình cãi, bản thân anh L thường xuyên nhậu say, đánh đập tôi gây ồn ào và làm ảnh hưởng đến những người trong gia đình, mọi công việc trong nhà anh L đổ hết trách nhiệm cho mình tôi quán xuyến, mỗi lần kình cãi anh L hay xúc phạm tôi trước mặt con chung, đến chổ làm của tôi đập phá đồ đạc. Sau khi sự việc xảy ra gia đình hai bên không có ý kiến gì mà để cho chúng tôi tự quyết định, sau mỗi lần nhận được giấy mời của Tòa án là anh L lại hăm dọa tôi, xúc phạm mẹ tôi, nay tôi xác định không còn tình cảm gì với anh L nên tôi xin ly hôn anh L.
Về con chung : Chúng tôi có 01 con chung như đã trình bày ở trên, khi ly hôn tôi xin nuôi cháu Kh, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung : Chúng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định :
-
- Về thủ tục : Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Ngô Thành L nhiều lần đến tòa để giải quyết vụ án nhưng anh L vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải được, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục, đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, tại phiên tòa hôm nay anh Ngô Thành L vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung : Chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Ngô Thành L chung sống với nhau vào năm 2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Suối H - DK. Đây là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống chị N và anh L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị N xin ly hôn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa xét : Việc mâu thuẫn của chị N và anh L xảy ra do cách sống hai bên không phù hợp, hai vợ chồng không thông cảm chia sẽ với nhau trong mọi hoàn cảnh, công việc dẫn đến kình cãi, xúc phạm nhau không có hạnh phúc, từ những mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày mà hai bên không tự khắc phục được dẫn đến những mâu thuẫn lớn và không tìm được tiếng nói chung. Tại biên bản xác minh ngày 08/12/2020 của Công an xã Suối H thì anh Ngô Thành L có hộ khẩu tại địa phương và hiện nay đang làm ăn sinh sống tại địa chỉ trên nhưng khi Tòa án triệu tập thì anh L lại không đến tòa, điều này càng khẳng định rằng anh L cũng không quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình. Do đó, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị N được ly hôn anh L là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
- Về con chung : Chị N và anh L có 01 con chung là cháu Ngô Anh Kh hiện nay đang sống cùng chị N có cuộc sống ổn định và cháu còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ hơn nên giao cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh là phù hợp với quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, nếu sau này có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
- Về tài sản chung : Anh Ngô Thành L vắng mặt nên HĐXX không xem xét giải quyết, chị N xác nhận không có nợ chung.
- Về án phí : Chị N phải chịu án phí HNGĐ/ST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên !
QUYẾT ĐỊNH :
* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
* Căn cứ vào 147, 207, 235 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử :
1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn anh Ngô Thành L.
2/ Về con chung : Giao cháu Ngô Anh Kh - Sinh ngày 30/08/2015 cho chị Nguyễn Thị Trúc N trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Ngô Thành L đến khi nào chị N có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác
Anh Ngô Thành L được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung : Ang Ngô Thành L vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, khi nào có đơn yêu cầu thì giải quyết sau, chị N xác nhận không có nợ chung.
4/ Về án phí : Chị Nguyễn Thị Trúc N phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ/ST. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 1957 ngày 27/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận : - TAT Khánh Hòa - VKS ND huyện DK - Chi cục THA/DS huyện DK - UBND xã Suối H - Đương sự + Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Hạnh |