- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng ĐT - Phan Thị N"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ĐT.
- Căn cứ chính? Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/DS-ST Ngày: 24/8/2021 V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- - - - - - - - - - - - -
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lƣu T
Ông Lê Văn D
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hiền B - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị B - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2021/TLST - DS ngày 08 tháng 6 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-DS ngày 20/7/2021 và Quyết định hoàn phiên tòa số 32/2021/QĐST-DS ngày 06/8/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng ĐT
Địa chỉ: 35 H, Quận H, H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C - Giám đốc Ngân hàng ĐT chi nhánh G.
Ông C ủy quyền cho ông Trương Văn P - Giám đốc Phòng giao dịch Đ tham gia tố tụng. Có mặt.
Bị đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Quang B, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt
+ Ông Lê Văn T, sinh năm: 1966 và bà Trƣơng Thị H, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt.
+ Ông Lê Văn M, sinh năm: 1974 và bà Đỗ Thị Thu V, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện các bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng ĐT trình bày:
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, bà Phan Thị N ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2019/12025619/HĐTD với Ngân hàng ĐT để vay số tiền 580.000.000 đồng; mục đích vay: mua bò; thời hạn vay 11 tháng (từ ngày 27/02/2019 đến ngày 27/12/2019); lãi suất cho vay áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh 03 tháng 01 lần với lãi suất cho vay ban đầu là 10,2%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất chậm trả là 10%/năm. Để đảm bảo khoản vay, bà Phan Thị N và chồng bà N là ông Lê Quang B đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/12025619/HĐTC ngày 26/02/2019, được công chứng ngày 26/02/2019 tại Văn phòng Công chứng Đ, tỉnh G và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh G - Chi nhánh huyện Đ theo đúng quy định của pháp luật.
Từ ngày 05/04/2020 đến nay, bà N, ông B không tiếp tục thực hiện việc trả gốc và lãi theo đúng cam kết đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng đã thông báo, mời làm việc nhiều lần, do đó, toàn bộ số tiền vay của bà N, ông B tại Hợp đồng cho vay nói trên đã bị quá hạn.
Vì vậy, Ngân hàng ĐT khởi kiện yêu cầu giải quyết: Buộc bà Phan Thị N và ông Lê Quang B phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ĐT tổng số tiền là 715.434.137 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn một trăm ba mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 580.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 104.273.041 đồng và lãi quá hạn là 31.161.096 đồng.
Trường hợp bà Phan Thị N và ông Lê Quang B không T toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/12025619/HĐTC ngày 26/02/2019 mà bà N, ông B đã ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc niêm yết các văn bản tố tụng để triệu tập bị đơn là bà Phan Thị N đến tham gia tố tụng nhưng bà N không có mặt vì vậy hồ sơ vụ án không có lời trình bày của bà N.
Tòa án cũng đã thực hiện đầy đủ việc niêm yết các văn bản tố tụng để triệu tập người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Quang B đến tham gia tố tụng nhưng ông B không có mặt vì vậy hồ sơ vụ án không có lời trình bày của ông B.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M và bà Đỗ Thị Thu V trình bày: Ngày 07/5/2010, tôi có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Quang B và bà Phan Thị N diện tích đất có cà phê khoảng 2.300m2 tại thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G với số tiền 27.000.000 đồng. Việc mua bán có giấy viết tay, chưa làm thủ tục theo đúng quy định của pháp luật nhưng chúng tôi đã giao đủ tiền và nhận đất canh tác từ đó đến nay. Chúng tôi được biết là bà N và ông B đem tài sản đã bán cho chúng tôi thế chấp để vay vốn Ngân hàng ĐT. Chúng tôi đã được Tòa án phổ biến, giải thích các quy định của pháp luật liên quan và yêu cầu chúng tôi làm đơn yêu cầu độc lập để giải quyết. Tuy nhiên, chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này và từ chối tham gia tố tụng. Nếu thấy cần thì chúng tôi sẽ khởi kiện bằng vụ án khác để yêu cầu Tòa án giải quyết sau.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T và bà Trương Thị H trình bày: Ngày 10/01/2011, tôi có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Quang B và bà Phan Thị N diện tích đất khoảng 1.500m2 tại thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G với số tiền 25.000.000 đồng. Việc mua bán có giấy viết tay, chưa làm thủ tục theo đúng quy định của pháp luật nhưng chúng tôi đã giao đủ tiền và nhận đất canh tác từ đó đến nay. Chúng tôi được biết là bà N và ông B đem tài sản đã bán cho chúng tôi thế chấp để vay vốn Ngân hàng ĐT. Chúng tôi đã được Tòa án phổ biến, giải thích các quy định của pháp luật liên quan và yêu cầu chúng tôi làm đơn yêu cầu độc lập để giải quyết. Tuy nhiên, chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này và từ chối tham gia tố tụng. Nếu thấy cần thì chúng tôi sẽ khởi kiện bằng vụ án khác để yêu cầu Tòa án giải quyết sau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 715.434.137 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn mootrj trăm ba mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 580.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 104.273.041 đồng và lãi quá hạn là 31.161.096 đồng. Trường hợp bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện trả nợ được thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thế chấp để thu hồi nợ; Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn là bà Phan Thị N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Quang B. Tuy nhiên, bà N và ông B không đến Toà án để tham gia tố tụng, không đến tham gia phiên tòa, tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
Ông Lê Văn T, bà Trương Thị H, ông Lê Văn M, bà Đỗ Thị Thu V cũng được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, ông T, bà H, ông M, bà V không ai có yêu cầu độc lập và đều từ chối tham gia tố tụng.
Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung: Ngày 27 tháng 02 năm 2019, bà Phan Thị N ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2019/12025619/HĐTD với Ngân hàng ĐT để vay số tiền 580.000.000 đồng; mục đích vay: mua bò; thời hạn vay 11 tháng (từ ngày 27/02/2019 đến ngày 27/12/2019); lãi suất cho vay áp dụng lãi suất thả nổi điều chỉnh 03 tháng 01 lần với lãi suất cho vay ban đầu là 10,2%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất chậm trả là 10%/năm. Để đảm bảo khoản vay, bà Phan Thị N và chồng bà N là ông Lê Quang B đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/12025619/HĐTC ngày 26/02/2019, được công chứng ngày 26/02/2019 tại Văn phòng Công chứng Đ, tỉnh G và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh G - Chi nhánh huyện Đ theo đúng quy định của pháp luật.
Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng nên hợp pháp. Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật.
Từ ngày 05/04/2020 đến nay, bà N, ông B không tiếp tục thực hiện việc trả gốc và lãi theo đúng cam kết đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng đã thông báo, mời làm việc nhiều lần, do đó, toàn bộ số tiền vay của bà N, ông B tại Hợp đồng cho vay nói trên đã bị quá hạn.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết buộc bà Phan Thị N và ông Lê Quang B phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ĐT tổng số tiền là 715.434.137 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn một trăm ba mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 580.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 104.273.041 đồng và lãi quá hạn là 31.161.096 đồng. Trường hợp bà Phan Thị N và ông Lê Quang B không T toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/12025619/HĐTC ngày 26/02/2019 mà bà N, ông B đã ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa ông Lê Văn T và bà Trương Thị H, ông Lê Văn M và bà Đỗ Thị Thu V vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vì ông T và bà H, ông M và bà V có nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay đối với tài sản mà bà N và ông B đã thế chấp để vay vốn ngân hàng là thửa đất số 153, tờ bản đồ số 13 tại thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G và hiện là những người đang sử dụng đất. Tuy nhiên, ông T và bà H, ông M và bà V không ai có yêu cầu độc lập gì và đều từ chối tham gia tố tụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay đã được xác lập giữa bà Phan Thị N và ông Lê Quang B với ông Lê Văn T và bà Trương Thị H cũng như với ông Lê Văn M và bà Đỗ Thị Thu V. Ông Lê Văn T và bà Trương Thị H, ông Lê Văn M và bà Đỗ Thị Thu V có quyền khởi kiện để yêu cầu giải quyết tranh chấp (nếu có) với bà Phan Thị N và ông Lê Quang B bằng vụ án dân sự khác.
[4] Về lệ phí đăng tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú: Tổng số tiền chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000đồng. Nguyên đơn là người có nghĩa vụ thông báo nên phải chịu toàn bộ chi phí này.
[5] Về chí phí xem xét thẩm định: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bà N và ông B phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 6.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bà N và ông B phải chịu toàn bộ số tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 317, 318, 319, 320, 322, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
- Các Điều 90, 91, Điều 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ĐT.
Buộc bà Phan Thị N và ông Lê Quang B phải liên đới trả cho Ngân hàng ĐT tổng số tiền tổng số tiền còn nợ là 715.434.137 đồng (Bảy trăm mười lăm triệu bốn trăm ba mươi bốn ngàn một trăm ba mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 580.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 104.273.041 đồng và lãi quá hạn là 31.161.096 đồng.
Việc tính lãi và cả lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bà Phan Thị N và ông Lê Quang B không trả được nợ gốc và nợ lãi nêu trên cho Ngân hàng ĐT thì Ngân hàng ĐT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/12025619/HĐTC ngày 26/02/2019 mà bà N, ông B đã ký kết với Ngân hàng ĐT để thu hồi nợ. Cụ thể:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 153, tờ bản đồ số 13, địa chỉ tại thôn 10, xã I, huyện Đ, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 600577 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 26/6/2014 cho ông Lê Quang B.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 103 và 281, tờ bản đồ số 42, dịa chỉ tại thôn 6, xã Ia Băng, huyện Đ, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 607739 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 29/01/2016 cho ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Đ; đã chuyển nhượng toàn bộ chỉnh lý sang tên cho ông Lê Quang B và bà Phan Thị N ngày 29/5/2017.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 236, tờ bản đồ số 30, dịa chỉ tại thôn Breng, xã I, huyện Đ, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 412121 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/4/2013 cho ông T và bà Y; đã chuyển nhượng toàn bộ chỉnh lý sang tên cho ông Lê Quang B và bà Phan Thị N ngày 01/6/2015.
2. Về lệ phí đăng tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú: Tổng số tiền chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000đồng. Nguyên đơn là người có nghĩa vụ thông báo nên phải chịu toàn bộ chi phí này. Nguyên đơn đã nộp đủ.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Tổng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này. Buộc bà Phan Thị N và ông Lê Quang B phải trả lại cho Ngân hàng ĐT số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
4. Về án phí:
- Buộc bà Phan Thị N và ông Lê Quang B phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 32.617.366 đồng (Ba mươi hai triệu sáu trăm mười bảy ngàn ba trăm sáu mươi sáu đồng).
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng ĐT số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 15.232.361 đồng (Mười lăm triệu hai trăm ba mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi mốt đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009432 ngày 13/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/8/2021), nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án; Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn nêu trên kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G - VKSND huyện Đ - Chi cục THADS Đ - Các đương sự - Lưu HS, AV, VT | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Xuân H |