vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 13/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tráng A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tráng A T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt tù. Được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2020 đến ngày 18/01/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng A T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tráng A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 29/2020/HS-ST
Ngày 13/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Cầm Thị Đoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hương – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Tráng A T, sinh năm 1966, tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tráng A C (đã chết) và bà Giàng Thị M; bị cáo có vợ là Giàng Thị D và có 05 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Ngày 03/6/2017 được cho về chịu tang và trốn không quay lại cơ sở. Ngày 08/6/2017 cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La ban hành quyết định truy tìm học viên bỏ trốn khi đang chấp hành quyết định. Ngày 01/02/2020 Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm quy định về chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2020 đến ngày 18/01/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, quyết định cho Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17 giờ 30 phút, ngày 07/01/2020, tổ công tác Công an xã T, huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực Quốc lộ 43 thuộc tiểu khu 34, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Tráng A T (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Tráng A T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu đen, bên trong đựng chất bột màu trắng. Tráng A T khai là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Tráng A T về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.

Ngày 08/01/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với VKSND huyện M và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng số ma túy thu giữ của Tráng A T, kết quả: Cục chất bột màu trắng thu giữ của Tráng A T có khối lượng 0,84 gam, lấy 0,84 gam làm mẫu giám định ký hiệu “T”. Cơ quan Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 212 ngày 14/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,84 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,84 gam, loại Heroine. Hoàn lại mẫu giám định có khối lượng 0,62 gam.

Quá trình điều tra Tráng A T khai nhận: Bản thân là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 07/01/2020, Tráng A T đi bộ từ nhà tại bản P, xã T, huyện M đến tiểu khu P, thị trấn N, huyện M mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi T đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc tiểu khu P thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không quen biết, qua trao đổi T hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu đen với giá 400.000đ, sau khi mua được ma túy T cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Trên đường về T đã cất giấu gói Heroine vào trong hậu môn. Khi T đi đến tiểu khu 34, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Công an xã T, huyện M phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 13 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Tráng A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố Tráng A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Tráng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tráng A T từ 21 tháng đến 24 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + mảnh nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Tráng A T; 01 phong bì niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La bên trong đựng 0,62 gam còn lại sau giám định.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Tráng A T thừa nhận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 07/01/2020, Tráng A T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,84 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Ngày 22/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Ngày 03/6/2017 được cho về chịu tang và trốn không quay lại cơ sở. Ngày 08/6/2017 cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La ban hành quyết định truy tìm học viên bỏ trốn khi đang chấp hành quyết định. Đối với hành vi Trốn khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tráng A T căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 hành vi của bị cáo không bị coi là tội phạm. Ngày 01/02/2020 Công an huyện Mộc Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm quy định về chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + mảnh nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Tráng A T; 01 phong bì niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La bên trong đựng 0,62 gam còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tráng A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tráng A T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt tù. Được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2020 đến ngày 18/01/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Tráng A T, bắt ngày 07/01/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + mảnh nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi niêm phong test thử ma túy của Tráng A T. SN 1966. HKTT: P, T, M, Sơn La, Kq: Dương tính, ngày 07/01/2020 bên trong đựng test thử ma túy của Tráng A T; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi mẫu không sử dụng đến trong quá trình giám định, thuộc mẫu giám định ký hiệu "T" có khối lượng 0,62 gam của vụ: Tráng A T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 07/01/2020 tại xã T, huyện M, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Tráng A T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 13/3/2020. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Sơn La;

- VKSND tỉnh Sơn La;

- VKSND huyện Mộc Châu;

(Đã ký)

- Công an huyện Mộc Châu;

- THAHS;

- Trại giam;

- Chi cục THA dân sự huyện Mộc Châu;

- Bị cáo;

- Lưu: Hồ sơ, án văn.

Nguyễn Trung Kiên

Cỡ chữ