vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Đức M 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/02/2020. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2020/HS - ST
Ngày: 06/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI,TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Hồng Sơn và bà Trần Thanh Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Đức M; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1988; nơi cư trú: xóm 6, xã QG, huyện Q, tỉnh Nghệ An; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Đức Th; sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị Tr; sinh năm 1966; vợ: Hồ Thị B; sinh năm 1992; có hai con: lớn nhất 07 tuổi, nhỏ nhất 4 tuổi; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2020 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 23/02/2020, Trần Đức M mượn điện thoại của anh Trần Văn H (sinh năm 1985, trú tại xóm 7, xã QG, huyện Q, tỉnh Nghệ An) rồi gọi điện thoại cho một người tên H (M không biết họ tên, địa chỉ cụ thể mà chỉ biết ở thị xã HM) để hỏi mua ma túy về sử dụng thì H đồng ý. Trần Đức M đi xe khách ra khu vực khối 5, phường QX, thị xã HM thì gặp H, H nói cho M đi lên phía dốc cổng trường THPT HM 2 để mua ma túy. Trần Đức M đi hướng lên cổng trường THPT HM 2 khoảng 100m thì gặp một người đàn ông lạ mặt đeo khẩu trang M đưa cho người này 300.000đ thì người đó đưa lại một gói ma túy được bọc bằng bao nilon màu trắng. Khi mua xong, khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Đức M quay lại đi bộ trên đường quốc lộ 1A thuộc khối 5, phường QX thì bị lực lượng công an thị xã HM kiểm tra, Trần Đức M liền thả gói ma túy đang cầm trên tay phải xuống đất thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 gói nhỏ được bọc bằng ni lon màu trắng, bên trong chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và 01 điện thoại di động.

Tại kết luận giám định số 304/KL-PC09 ngày 25/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Đức M gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Đức M có khối lượng là 0,19g (không phẩy mười chín gam).

Cáo trạng số 31/CT-VKS-HM, ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H đã truy tố bị cáo Trần Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Trần Đức M từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ, kích thước (12x18)cm, được dán kín, bên trong có chứa 0,07g(không phẩy không bảy gam) ma túy (Methamphetamine) sau khi đã lấy mẫu gửi giám định và vỏ niêm phong ban đầu.

- Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có số IMEL: 359214071598381, được niêm phong theo đúng quy định.

Đối với người nam thanh niên tên H và người đàn ông đã bán mua túy cho Trần Đức M, nhưng M không biết đầy đủ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác minh được nhưng người này nên không có cơ sở để xử lý.

Bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đề nghị được chiếu cố giảm nhẹ mức án để sớm được về với gia đình, làm người lương thiện.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét toàn diện đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức M phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/02/2020 tại đường quốc lộ 1A, thuộc khối 5, phường QX, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Trần Đức M đã có hành vi tàng trữ 0,19g ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Quá trình phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ trái phép nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Trần Đức Mạnh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và làm lây truyền các bệnh nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án. Bởi vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc bằng hình phạt tù, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện để răn đe giáo dục người phạm tội nói riêng cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, xử phạt bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Trong vụ án này, đối với người nam thanh niên tên H và người đàn ông đã bán mua túy cho Trần Đức M, nhưng M không biết đầy đủ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác minh được nhưng người này nên không có cơ sở để xử lý.

[7] Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ, kích thước (12x18)cm, được dán kín, bên trong có chứa 0,07g(không phẩy không bảy gam) ma túy (Methamphetamine) sau khi đã lấy mẫu gửi giám định và vỏ niêm phong ban đầu.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có số IMEL: 359214071598381, được niêm phong theo đúng quy định.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Trần Đức M 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/02/2020.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì thư bưu điện viền xanh đỏ, kích thước (12x18)cm, được dán kín, bên trong có chứa 0,07g(không phẩy không bảy gam) ma túy (Methamphetamine) sau khi đã lấy mẫu gửi giám định và vỏ niêm phong ban đầu có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai ngày 26/3/2020.

Trả lại cho bị cáo Trần Đức M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có số IMEL: 359214071598381, được niêm phong theo đúng quy định có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai ngày 26/3/2020.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Trần Đức M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ