vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 11/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của

Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tiêu Sanh Tr; Điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu Sanh Tr + đồng bọn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 29/2020/HS-ST

Ngày: 11/08/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu Các Hội thẩm nhân dân: 1) Ông Đặng Ngọc Hương 2) Ông Nguyễn Lý Xuyên - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải – Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Tiêu Sanh Tr (tên gọi khác: Đen Thơ) - sinh năm 1989 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố LT, phường CL, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tiêu Sanh Ng và bà: Lê Thị Th; Có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Nhân thân: Ngày 11/6/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 20/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa. 2. Họ và tên: Trần Trí V (tên gọi khác: Tỷ) - sinh năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số 9F L, phường 10, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố LH, phường CL, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Mộc Th và bà: Nguyễn Thị Tố Th (đã chết); Có vợ (đã ly hôn) và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

- Ngày 26/9/2001, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố Cam Ranh) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục dạy nghề tỉnh Khánh Hòa. - Ngày 25/9/2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Cam Ranh (nay là thành phố Cam Ranh) xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2014. - Ngày 11/01/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa. Đến ngày 25/01/2019, được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại đối với người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính. Bị cáo áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 11/8/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa. 3. Họ và tên: Trần Quốc H (tên gọi khác: T) - sinh năm 1983 tại tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn HS, xã CTĐ, thành phố C, Khánh Hoà; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H và bà: Ngô Thị T; Có vợ (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 06/5/2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa. 4. Họ và tên: Đoàn Anh Kh - sinh năm 1987 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: thôn HM, xã CTĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đoàn Anh L (đã chết) và bà: Phan Thị Thùy L; Có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa. 5. Họ và tên: Nguyễn Trung H - sinh ngày 15 tháng 4 năm 2000 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn TK, xã NS, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố PL, phường CP, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đại Qu và bà: Hồ Thị Anh Ph; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã và tạm giam từ ngày 23/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lâm Ngọc B - sinh năm: 1998 Nơi cư trú: 131/33/38 đường 2/4, phường VT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa. * Người làm chứng: 1. Chị Trần Thị T - sinh năm: 1991 Nơi cư trú: Thôn VL, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa 2. Anh Võ Văn A - sinh năm: 1987 Nơi cư trú: Thôn H, xã CTĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa

3. Chị Nguyễn Thị Thúy V - sinh năm: 1996 Nơi cư trú: Tổ dân phố TL, phường CT , thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa 4. Ông Ngô Phụng Th - sinh năm: 1967 Nơi cư trú: Thôn TH, xã NH, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tiêu Sanh Tr là người nghiện ma tuý, vào ngày 04/8/2019, 08/8/2019, Trung đã 02 lần mua ma túy mỗi lần với giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) của một người (không rõ lai lịch) ở thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về bán lại cho người khác để kiếm lời, cụ thể: - Lần 1: Tối ngày 08/8/2019, tại khu vực Suối nước nóng thuộc tổ dân phố TL, phường BN, thành phố C; Trung bán cho Đoàn Anh Kh 01 bịch ma túy với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). - Lần 2: Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2019, tại phòng số 02 Nhà nghỉ 46 ở tổ dân phố LT, phường CL, thành phố C; Tr bán cho Kh 01 bịch ma túy với giá 700.000 đồng, (bảy trăm nghìn đồng). - Lần 3: Khoảng 13 giờ ngày 10/8/2019, tại phòng số 02 Nhà nghỉ 46, Tr bán cho Kh 01 bịch ma túy với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). - Lần 4: Khoảng 14 giờ ngày 10/8/2019, tại phòng số 02 Nhà nghỉ 46, Tr bán cho Kh 01 bịch ma túy với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Đến khoảng 21 giờ ngày 10/8/2019, Tr điện thoại cho V để mua 1.000.000 đồng ma túy. Viễn đồng ý. Số ma tuý này do V mua của người tên T (không rõ lai lịch) ở khu vực lầu 7 thành phố N, tỉnh Khánh Hoà với giá 4.500.000 đồng. Sau đó, Tr đưa cho H 1.000.000 đồng để đi lấy ma túy. H đồng ý và đến khu vực gần nhà nghỉ T thuộc tổ dân phố TL, phường BN, thành phố C gặp Vlấy ma túy. Sau đó, H về phòng số 02 Nhà nghỉ 46 đưa ma túy cho Tr. Tại đây, Tr phân ma túy thành nhiều bịch nhỏ để bán lại kiếm lời, cụ thể: - Lần 1: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/8/2019, Tr nhờ H cầm 01 bịch ma túy bán cho người thanh niên (không rõ lai lịch) tại khu vực trước Kho bạc Nhà nước thành phố Cam Ranh với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). - Lần 2: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/8/2019, H mượn điện thoại của Lâm Ngọc B gọi điện cho Tr để mua ma túy với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Trung đồng ý. Sau đó, Tr nhờ H giao ma túy cho H. H đồng ý và mang ma tuý ra trước cổng Nhà nghỉ 46 giao cho H. Hà mang tiền về cho Tr. - Lần 3: Vào khoảng 00 giờ ngày 11/8/2019, Tr điều khiển xe mô tô chở H đến khu vực số 6 thuộc phường CPN, thành phố C bán 01 bịch ma túy cho người tên D (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

- Lần 4: Khoảng 00giờ 45 phút ngày 11/8/2019, H gọi điện thoại cho Tr để mua ma túy với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Tr nhờ H giao ma túy cho H. H mang ma tuý ra trước cổng Nhà nghỉ 46 giao cho H. Sau đó, Hà đi giao ma tuý và cầm tiền về lại cho Tr. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/8/2019, tổ công tác của Công an phường Cam Lộc phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Cam Ranh tuần tra tại khu vực trước cổng Nhà nghỉ 46 phát hiện thu giữ trong túi quần bên trái của Nguyễn Trung H 01 bịch nilong màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu A). Tổ công tác tiếp tục kiểm tra tại phòng số 02 Nhà nghỉ 46 có Tiêu Sanh Tr, Đoàn Anh Kh, Trần Quốc H, Võ Văn A, Trần Thị T có biểu hiện tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý nên tiến hành kiểm tra phát hiện: - Thu giữ bên trong túi quần Jean bên phải của Tiêu Sanh Tr: 01 bịch nilong, bên trong có 06 bịch nilong nhỏ được hàn kín, bên trong mỗi bịch có chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy tổng hợp (ký hiệu B); - Thu giữ của Đoàn Anh Kh: 01 bịch nilong, bên trong có 01 bịch nilong nhỏ được hàn kín, có chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu C) được cất trong mũ bảo hiểm; 01 bịch nilong được hàn kín, có chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu D) được cất trong túi quần phía sau bên trái của Kh để trên đầu giường. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ một số đồ vật khác. Đến khoảng 10 giờ 15 phút ngày 11/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh, tiến hành khám xét tại phòng trọ số 07, nhà trọ T thuộc tổ dân phố TL, phường BN, thành phố C của Trần Trí V. Thu giữ 07 bịch nilong được hàn kín có kích thước khác nhau, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu lần lượt là A’, B’, C’, D’, E, F, G) do V ném ra ngoài cửa sổ phía sau phòng số 7 của nhà nghỉ T; 01 bịch nilong được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu H) được cất trong túi màu đen hiệu Ahosmi trên sàn gác lửng phòng số 07. Ngoài ra thu giữ một số đồ vật khác. Tại Bản kết luận giám định số 435 ngày 16/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tinh thể trong mẫu ký hiệu A, B, C, D, E, F, G, H, A’, B’, C’, D’, đều là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là 0,1569g, 0,7193g, 0,1629g, 0,1278g, 0,4840g, 0,2434g, 0,1602g, 0,0691g, 2,5577g, 2,2686g, 1,1132g, 0,4753g. Tại Bản cáo trạng số 15/CT-VKSCR-HS ngày 06/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã truy tố các bị cáo Tiêu Sanh Tr, Trần Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Trí V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Đoàn Anh Kh, Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã giữ nguyên kết luận truy tố đối với các bị cáo Trần Trí V, Đoàn Anh Kh và Nguyễn Trung H; thay đổi kết luận truy tố đối với các bị cáo Tiêu Sanh Tr, Trần Quốc H về

tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (rút lại điểm c khoản 2 Điều 251) đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau: - Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt các bị cáo như sau: + Bị cáo Tiêu Sanh Tr: Từ 09 năm đến 10 năm tù. + Bị cáo Trần Trí V: Từ 09 năm đến 10 năm tù. + Bị cáo Trần Quốc H: Từ 07 năm đến 08 năm tù. + Bị cáo Đoàn Anh Kh: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù. + Bị cáo Nguyễn Trung H: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù. - Vật chứng vụ án: + Tịch thu tiêu hủy: 07 quẹt gas; 02 kéo inox (thu của Tiêu Sanh Tr); 01 túi màu đen hiệu Ahosmi, 03 quẹt gas, 02 kéo kim loại, 02 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng có một đầu được cắt nhọn; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, bên trên nắp có gắn 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 đoạn ống hút nhựa; tổng số 4,7994g ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định (thu của Trần Trí V); + Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen viền xanh, có gắn sim số 0899376217 (thu của Tiêu Sanh Tr); 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu vàng đồng, số IMEI 357217055864481 (thu của Trần Trí V). + Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng sau: Trả lại cho Tiêu Sanh Tr 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng trắng; Trả lại cho Đoàn Anh Kh 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có màn hình bị vỡ, có gắn sim số 0836972084; Trả lại cho Trần Trí V 01 điện thoại di động hiệu Philips, có ốp lưng màu bạc, số IMEI: 864371031100701; Trả lại cho Trần Quốc H 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có gắn sim số 0908788630; Trả lại cho Lâm Ngọc B 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng, số IMEI 358370063174705 (gắn ốp nhựa màu đen); Trả lại cho Võ Văn A 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, có gắn sim số 0867702137 ; Trả lại cho Trần Thị T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen, có gắn sim số 0935913619.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định. Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố các bị cáo là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp. [2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo các Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đại diện Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố đối với các bị cáo Tiêu Sanh Tr và Trần Quốc H theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự theo hướng có lợi hơn cho các bị cáo nên chấp nhận. [3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo theo cáo trạng truy tố thì thấy: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Từ ngày 08/10/2019 đến ngày 11/8/2019, Tiêu Sanh Tr đã 03 lần mua ma tuý của người khác về bán lại để kiếm lời. Tr bán ma túy loại Methamphetamine tổng cộng 08 lần cho Đoàn Anh Kh, Nguyễn Trung H và 02 người thanh niên không rõ lai lịch trên địa bàn thành phố Cam Ranh. Thu giữ của Tiêu Sanh Tr ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7193g. Trần Quốc H có hành vi giúp Tiêu Sanh Tr bán ma tuý 04 lần cho Nguyễn Trung H và 02 người thanh niên không rõ lai lịch trên địa bàn thành phố Cam Ranh. Trần Trí V có hành vi bán ma tuý 01 lần cho Tiêu Sanh Tr. Thu giữ của Trần Trí V ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 7,3715g. Khoảng 01 giờ ngày 11/8/2019, Nguyễn Trung H có hành vi tàng trữ 0,1569g ma tuý loại Methamphetamine. Khoảng 03 giờ ngày 11/8/2019, Đoàn Anh Kh có hành vi tàng trữ 0,2907g ma tuý loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Tiêu Sanh Tr, Trần Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Trí V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đoàn Anh Kh, Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. [4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Việc mua bán, tàng trữ ma túy tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra các tệ nạn xã hội nên cần xử lý nghiêm khác. Trong đó, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ của hành vi cụ thể từng bị cáo thực hiện như sau: [4.1] Bị cáo Tiêu Sanh Tr: Bị cáo trực tiếp nhiều lần bán ma túy và còn là đồng phạm với bị cáo Trần Quốc H trong việc mua bán ma túy với vai trò chủ mưu nên hành vi có tính nguy hiểm cao hơn so với bị cáo Trần Quốc H. [5.2] Bị cáo Trần Trí V: Bị cáo đã bán ma túy cho Tiêu Sanh Tr và tàng trữ một lượng ma túy lớn để bán lại và sử dụng nên hành vi có tính nguy hiểm ngang bằng với bị cáo Tiêu sanh Tr. [5.3] Bị cáo Trần Quốc H: Bị cáo là người đồng phạm với bị cáo Tiêu Sanh Trung trong việc bán ma túy 04 lần cho Nguyễn Trung Hiếu và 02 người thanh niên không rõ lai lịch trên địa bàn thành phố Cam Ranh nên mức nguy hiểm của hành vi hạn chế hơn so với bị cáo Trung. [5.4] Bị cáo Đoàn Anh Kh: Là người đã tàng trữ 0,2907g ma tuý loại Methamphetamine. [5.4] Bị cáo Nguyễn Trung H: Là người đã tàng trữ 0,1569g ma tuý loại Methamphetamine nên mức nguy hiểm của hành vi thấp hơn so với bị cáo Kh. [6] Ngoài ra, cũng cần xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo Trần Quốc H, Đoàn Anh Kh và Nguyễn Trung H đều phạm tội lần đầu, nhân thân không có tiền án tiền sự nên có thể áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. [8] Về vật chứng: + Tịch thu tiêu hủy: 07 quẹt gas; 02 kéo inox (thu của Tiêu Sanh Tr); 01 túi màu đen hiệu Ahosmi, 03 quẹt gas, 02 kéo kim loại, 02 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng có một đầu được cắt nhọn; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, bên trên nắp có gắn 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 đoạn ống hút nhựa; tổng số 4,7994g ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định (thu của Trần Trí V);

Đối với các tài sản đang tạm giữ của các bị cáo nên áp dụng khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên: + Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen viền xanh, có gắn sim số 0899376217; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng trắng (thu của Tiêu Sanh Tr); 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có màn hình bị vỡ, có gắn sim số 0836972084 (thu của Đoàn Anh Kh; 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu vàng đồng, số IMEI 357217055864481; 01 điện thoại di động hiệu Philips, có ốp lưng màu bạc, số IMEI: 864371031100701 (thu của Trần Trí V); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có gắn sim số 0908788630 (thu của Trần Quốc Hà) + Trả lại cho Lâm Ngọc B 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng, số IMEI 358370063174705 (gắn ốp nhựa màu đen); + Trả lại cho Võ Văn A 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, có gắn sim số 0867702137 ; + Trả lại cho Trần Thị T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen, có gắn sim số 0935913619. [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tiêu Sanh Tr; - Điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Trí V; - Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Quốc H; - Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đoàn Anh Kh và Nguyễn Trung H; - Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. 1. Tuyên bố: Các bị cáo Tiêu Sanh Tr, Trần Quốc H, Trần Trí V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Các bị cáo Đoàn Anh Kh, Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt các bị cáo như sau: - Bị cáo Tiêu Sanh Tr 09 (chín) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù tại Bản án số: 24/2019/HSST ngày 11/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11(mười một) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/8/2019 nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/4/2019 đến ngày 12/4/2019. - Bị cáo Trần Trí V 09 (chín) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/8/2019. - Bị cáo Trần Quốc H 07 (bảy) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 06/5/2020. - Bị cáo Đoàn Anh Kh 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. - Bị cáo Nguyễn Trung H 01 (một) 03 (ba) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 23/12/2019. 3. Về vật chứng: + Tịch thu tiêu hủy: 07 quẹt gas; 02 kéo inox (thu của Tiêu Sanh Tr); 01 túi màu đen hiệu Ahosmi, 03 quẹt gas, 02 kéo kim loại, 02 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh trắng có một đầu được cắt nhọn; 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, bên trên nắp có gắn 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu; 01 đoạn ống hút nhựa; tổng số 4,7994g ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định (thu của Trần Trí V); + Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Forme màu đen viền xanh, có gắn sim số 0899376217; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng trắng (thu của Tiêu Sanh Tr); 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, có màn hình bị vỡ, có gắn sim số 0836972084 (thu của Đoàn Anh Kh); 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu vàng đồng, số IMEI 357217055864481; 01 điện thoại di động hiệu Philips, có ốp lưng màu bạc, số IMEI: 864371031100701 (thu của Trần Trí V); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có gắn sim số 0908788630 (thu của Trần Quốc H) + Trả lại cho Lâm Ngọc B 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng trắng, số IMEI 358370063174705 (gắn ốp nhựa màu đen); + Trả lại cho Võ Văn A 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, có gắn sim số 0867702137 ; + Trả lại cho Trần Thị T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen, có gắn sim số 0935913619. (Vật chứng được mô tả cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra – công an Thành phố Cam Ranh và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cam Ranh).

5. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nginhận:

Cỡ chữ