- Tranh chấp gì? án hình sự — "KIm Cương - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Kim C (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2020/HS-ST Ngày: 07 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diệp Hồng Châu.
Ông Trần Hoàng Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Kim C (tên gọi khác: Ch), sinh năm 1982 tại S T. Nơi cư trú: Ấp H T, thị trấn L H Th, huyện T Đ, tỉnh S T; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: (không rõ) và bà Kim Thị R (sinh năm 1949, còn sống); Anh, chị, em ruột: Không có; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/4/2020 đến ngày 05/5/2020 tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Kim H; Sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Ấp H T, thị trấn L H T, huyện T Đ, tỉnh S T (Vắng mặt – Có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).
- Đỗ T T; Sinh năm: 1973; Nơi cư trú: Ấp G G, thị trấn L H T, huyện T Đ, tỉnh S T (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Thạch Thị T; Sinh năm: 1983; Nơi cư trú: Ấp Đ N, xã L T, huyện T Đ, tỉnh S T (Vắng mặt).
- Th V; Sinh năm: 1951; Nơi cư trú: Ấp G G, thị trấn L H T, huyện T Đ, tỉnh S T (Vắng mặt).
* Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lý T; nơi công tác: Ủy ban nhân dân thị trấn T Đ, huyện T Đ, tỉnh S T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 4 năm 2020 trên tuyến lộ đal thuộc ấp Đ N, xã L T, huyện T Đ, tỉnh S T, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự , kinh tế, ma túy Công an huyện T Đ tiến hành kiểm tra chiếc xe mô tô biển số 83Y1 -008.61 do ông Đỗ Thanh T điều khiển chở ông Kim C. Qua kiểm tra, Công an thu giữ một gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn trong suốt từ trong túi quần Kim C rơi xuống lộ đal. Nghi vấn là chất ma túy nên Đội cảnh sát điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ và niêm phong chất tinh thể rắn trong suốt gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 52/GĐMT-PC09, ngày 01 tháng 5 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh S T kết luận: Chất tinh thể rắn trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine có khối lượng 1,9988 gam.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T Đ, bị cáo khai nhận vào khoảng 13 giờ ngày 29/4/2020, bị cáo đến nhà ông Kim H (cư ngụ cùng ấp với bị cáo) chơi. Bị cáo chơi ở nhà ông Kim H đến 16 giờ thì bị cáo mượn điện thoại của ông Kim H gọi điện thọai cho một người tên N ở xã L T để hỏi mua ma túy. Sau khi nói chuyện với người tên N xong, bị cáo hỏi mượn của ông Kim H 1.800.000 đồng và nhờ ông Kim H chở bị cáo ra cầu L H T. Khi đến cầu L H T, bị cáo hỏi mượn ông Kim H thêm 30.000 đồng nữa. Ông H đưa cho bị cáo tổng cộng 1.830.000 đồng và ông H chạy xe đi mua gà. Sau đó, bị cáo kêu xe ôm của ông Đỗ Thanh T để đi Li T. Khi đi đến chỗ cua lò sấy thì bị cáo kêu ông T dừng xe chờ bị cáo. Bị cáo đi bộ một đoạn thì có một người thanh niên mang khẩu trang đi bộ ra đưa cho bị cáo một gói chứa ma túy đá bọc bằng giấy lịch. Bị cáo trả cho người thanh niên 1.800.000 đồng và đi bộ đến chỗ ông T đang ngồi đợi. Sau đó, ông T chở bị cáo về thì bị Công an huyện T Đ kiểm tra và bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T Đ thu giữ: Ma túy có khối lượng còn lại sau giám định là 1,9645 gam (BL 36); 01 (một) xe mô tô biển số 83Y1-008.61 và 50.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã rà soát người bán ma túy cho bị cáo có tên là N nhưng không thể xác định được là ai. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Nếu xác định được đối tượng này sẽ xử lý sau.
Đối với ông Kim H là người đã cho bị cáo mượn tiền để mua ma túy. Qua điều tra đã xác định ông H không biết bị cáo dùng tiền mượn để mua ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông H.
Đối với ông Đỗ Thanh T là người chạy xe ôm, ông đã dùng chiếc xe mô tô biển số 83Y1-008.61 là tài sản hợp pháp của ông chở bị cáo đi L T nhưng ông không biết bị cáo đi mua ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông T.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSTĐ ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T Đ truy tố bị cáo Kim C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Kim C phạm tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 1,9645 gam; Trả lại cho bị cáo số tiền 50.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Kim C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lo cho mẹ già đang sống một mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của ông Kim H, bà Thạch Thị T và ông Thạch V. Xét thấy, những người này đã có có lời khai tại Cơ quan điều tra và xét sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vụ án.
Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo Kim C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Methamphetamine là chất gây nghiện, gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau, ảnh hưởng đến kinh tế của cả xã hội. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội.
Xét về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy. Và để có ma túy sử dụng, vào ngày 29/4/2020, sau khi đi chơi ở nhà ông Kim H, bị cáo hỏi mượn ông Kim H 1.830.000 đồng với mục đích là dùng số tiền này để mua ma túy và đi xe ôm. Sau đó, bị cáo nhờ ông Kim H chở bị cáo ra cầu L H T. Tại cầu L H T, bị cáo tiếp tục kêu xe ôm ông Đỗ Thanh T chở bị cáo đi L T. Khi ông Đỗ Thanh T chạy xe gần tới chỗ để gặp người bán ma túy thì bị cáo kêu xe ôm dừng lại chờ bị cáo và bị cáo một mình đi bộ đến gặp người thanh niên để mua ma túy với số tiền 1.800.000 đồng. Sau đó, bị cáo quay trở lại chỗ ông T và ông T chở bị cáo về thì bị Công an huyện T Đ kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ khối lượng ma túy của bị cáo là 1,9988 gam (Khối lượng còn lại sau giám định là 1,9645 gam).
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc Khmer, không biết chữ. Cha bị cáo đã bỏ mẹ con bị cáo từ khi bị cáo còn nhỏ nên bị cáo cũng không biết cha mình là ai. Bị cáo là người con duy nhất sống với mẹ ruột tuổi đã cao, già yếu (mẹ bị cáo đã 71 tuổi). Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại tòa hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Đối chiếu hành vi phạm tội của bị cáo Kim C thực hiện vừa nêu trên với các quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo Kim C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: Ma túy có khối lượng còn lại sau giám định là 1,9645 gam.
- Chiếc xe mô tô biển số 83Y1-008.61, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave alpha màu trắng, số khung RLHJA3918KY369904, số máy JA39E1237599: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Thanh T và đã giao trả cho ông Đỗ Thanh T vào ngày 12/5/2020 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Số tiền 50.000 đồng: Quá trình điều tra xác định đây là số tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên giao trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: bị cáo Kim C (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Kim C (tên gọi khác: Ch) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 29/4/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 1,9645 gam ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong một phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số 52/GĐMT- PC0901 ngày 01/5/2020”, có chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Phạm Thanh Trường S, Trợ lý giám định Phùng Thuý A và Điều tra viên Trần Hoàng H. Gói niêm phong có đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S T.
- Trả lại cho bị cáo Kim C số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T Đ quản lý.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Kim C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -Người có QLNVLQ đến vụ án; -TANDT tỉnh S T (P.KTNV&THA); -VKSND tỉnh S T; -Sở tư pháp tỉnh S T; -VKSND huyện T Đ; -CAND huyện T Đ (CQCSĐT; Bộ phận HSNVCS; CQTHAHS; Nhà tạm giữ); -THADS huyện T Đ; -Lưu (HSVA; TA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Thị Ngọc Trân |