- Tranh chấp gì? án hình sự — "Từ Quang T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Từ Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2020/HS-ST Ngày: 29- 4- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bình
2. Ông Trần Văn Bể
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Tâm - Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2020/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Từ Quang T, sinh ngày 25/10/1984 tại xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Ông Từ Quang K, sinh năm 1954; mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1958; vợ là: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1988; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự, tiền án: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 04/12/2019, chuyển tạm giam từ ngày 07/12/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
- Người làm chứng:
+ Chị Lương Thị Th1, sinh năm 1960
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình
+ Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 04/12/2019, tại đoạn đường ĐH 61 thuộc địa phận thôn Cun, xã Tân Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Từ Quang T có hành vi cất giấu trái phép trong túi áo khoác phía trước bên phải T đang mặc 01 gói giấy tráng kim màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai nhận đó là ma túy của một người thanh niên khoảng 30 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ đã cho T lúc 11 giờ tại quán Internet tại thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà. Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói giấy tráng kim màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục.
Về nguồn gốc ma tuý do không xác định được danh tính của đối tượng đã đưa ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Bản kết luận giám định số 441/KLGĐ-PC09 ngày 05/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,1440 gam.
Bản cáo trạng số 30/CT-VKSHH ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố Từ Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Từ Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Từ Quang T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có chứa chất ma tuý hoàn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Bị cáo Từ Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào hồi 12 giờ 30 phút, ngày 04/12/2019 tại đoạn đường ĐH 61 thuộc địa phận thôn Cun, xã Tân Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và bị bắt quả tang với khối lượng 0,1440 gam ma túy loại Hêrôin mục đích để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo Từ Quang T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Từ những căn cứ trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định; bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói giấy tráng kim màu trắng bên trong có chứa ma túy, sau khi giám định, cơ quan giám định đã hoàn mẫu vật giám định, cần tịch thu để tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Từ Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Từ Quang T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tịch thu để tiêu huỷ 0,1120 gam Hêrôin và bao gói được niêm phong trong 01 phong bì hoàn mẫu vật ghi số 441KLGĐ-PC09 ngày 16/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày 16/3/2020.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo Từ Quang T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Hưng Hà; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Hưng Hà; - Chi cục THADS H.Hưng Hà; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng |