vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 01/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thành N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1893/KL- KTHS, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T, trợ lý Trần Thanh T và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; 01 vỏ bao thuốc lá nhã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH T
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2020/HS-ST
Ngày: 01-6-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Dũng;

Ông Bùi Dân An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Yến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Sĩ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thành N, sinh năm 1997, tại T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số nhà 17, hẻm số 77, đường Nguyễn Chí T, Tổ 30, khu phố L, phường LT, thị xã H, tỉnh T; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Võ Thị N T; có vợ là Võ Thị Thanh H (đã ly thân từ tháng 12-2018) và 03 con; tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 26-12-2019, tạm giam ngày 03-01-2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 26-12-2019 tại nhà ở của Trần Văn K số 86, khu phố 4, phường L, thị xã H, tỉnh T, lực lượng cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an thị xã H bắt quả tang Lê Thành N đang bán cho K một bịch ma túy với giá 200.000 đồng. Tang vật thu giữ gồm: thu giữ của K 200.000 đồng, thu giữ của N 06 bịch nylon màu trắng hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M.

Quá trình điều tra xác định được N là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng N nhiều lần đến khu vực ấp LH, xã T, thị xã H gặp đối tượng tên “Quẹo đen” và “Quân” không rõ lai lịch để mua ma túy, mỗi lần mua từ 1.100.000 đồng đến 2.200.000 đồng. Sau đó N về chia nhỏ thành nhiều gói để dành bán cho các đối tượng nghiện ma túy.

Tại cơ quan điều tra N đã Ki ra các lần phạm tội của mình trước đó như sau:

- Ngày 22-12-2019, bán cho Trần Văn K 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng;

- Ngày 24-12-2019, bán cho Trần Văn K 01 bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng;

- Ngày 19-12-2019, Nguyễn Hoàng T chở N đến nhà Nguyễn Hoàng K bán ma túy cho K 01 bịch ma túy 500.000 đồng (Thông không biết việc N bán ma túy);

- Ngày 23-12-2019, K cùng Nguyễn Thanh T đến nhà N thuê để ở mua của N một bịch ma túy với giá 500.000 đồng.

- Ngày 10-12-2019, bán cho Nguyễn Tuấn A 01 bịch ma túy với giá 150.000

đồng;

- Ngày 22-12-2019, bán cho Nguyễn Tuấn A 01 bịch ma túy với giá 200.000

đồng;

- Ngày 26-12-2019, trong lúc N bị bắt giữ và được áp giải về nơi ở để khám xét khẩn cấp thì Tuấn Anh đi cùng Mai Anh K đến gặp N để mua 200.000 đồng ma túy nên bị Công an thị xã H mời về làm việc.

Ngoài ra N còn bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ.

Tại kết luận giám định số 1893/KL-KTHS ngày 29-12-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 06 bịch nylon ký hiệu M gửi đến giám định là chất ma túy; là loại Methamphetamin; khối lượng 6,1227gam.

Đối với Trần Văn K, Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thanh T, Mai Anh K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển giao cho địa phương xử lý hành chính.

Các đối tượng “Quẹo đen”, “Quân” bán ma túy cho N, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo Lê Thành N không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSND-HT ngày 16-4-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T đã truy tố bị cáo Lê Thành N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo Lê Thành N và đề nghị áp dụng các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị cáo bị tạm giam, bị cáo thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm về hòa nhập cộng đồng, làm người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, tỉnh T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 26-12-2019 N đang bán ma túy cho Trần Văn K thì bị bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm thu giữ của K 200.000 đồng, thu giữ của N 06 bịch nylon màu trắng hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M. Quá trình điều tra xác định được để có ma túy bán cho các đối tượng nghiện, N gặp các đối tượng “Quẹo đen” và “Quân” không rõ lai lịch để mua ma túy, mỗi lần mua từ 1.100.000 đồng đến 2.200.000 đồng sau đó về chia nhỏ ra để bán cho các đối tượng nghiện. N cũng Ki nhận đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng khác cụ thể: bán cho Trần Văn K 02 lần, Nguyễn Hoàng K 02 lần, Nguyễn Tuấn A (Bảo Anh) 02 lần. Kết luận giám định 06 bịch nylon ký hiệu M gửi đến giám định là chất ma túy; là loại Methamphetamin; khối lượng 6,1227gam. Hành vi của bị cáo N có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác; nên cần phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt bị cáo tự Ki ra những lần phạm tội của mình trước đó, ngoài ra trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1893/KL- KTHS, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T, trợ lý Trần Thanh T và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T là chất ma túy, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Jet”, đã qua sử dụng; một bóp màu nâu, nhãn hiệu “LEATHER”, đã qua sử dụng; một bình nhựa nhãn hiệu “Sting” trên nắp bình có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá; một bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng, một cây kéo bằng K loại, đã qua sử dụng, một ống K loại màu trắng cắt xéo một đầu; hai ống thủy tinh trong suốt; một ống hút màu cam; hai bịch nylon loại bóp dính miệng màu trắng; hai bịch nylon hàn kín ba cạnh màu trắng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Một điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số Imei 355828090718995, đã qua sử dụng của bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô hiệu DreamII Wavina, biển kiểm soát 52U1-0356, số khung VAVDCGOF4AV000153, số máy VHLFM150FMG000153, đã qua sử dụng là xe bị cáo cầm của một người không rõ họ tên, xe không có giấy tờ. Bị cáo không phải là chủ sở hữu hợp pháp tuy nhiên bị cáo sử dụng xe này để làm phương tiện mua bán ma túy, cơ quan Công an cũng đã tiến hành tra cứu tìm chủ phương tiện nhưng không có kết quả do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền là tiền bị cáo bán ma túy cho Trần Văn K nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Lê Thành N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào các điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thành N 08 (Tám) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày 26-12-2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1893/KL- KTHS, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T, trợ lý Trần Thanh T và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Jet”, đã qua sử dụng; một bóp da màu nâu, có ghi chữ “LEATHER”, đã qua sử dụng; một bình nhựa nhãn hiệu “Sting” trên nắp bình có gắn một ống nhựa và một ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá; một bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng; một cây kéo bằng K loại, đã qua sử dụng; một ống K loại màu trắng cắt xéo một đầu; hai ống thủy tinh trong suốt; một ống hút màu cam; hai bịch nylon loại bóp dính miệng màu trắng; hai bịch nylon hàn kín ba cạnh màu trắng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền mặt 200.000 đồng (Số seri TV13681064), một điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số Imei 355828090718995, đã qua sử dụng; một xe mô tô hiệu DreamII Wavina, biển kiểm soát

52U1-0356,

số

khung

VAVDCGOF4AV000153,

số

máy VHLFM150FMG000153 (xe không có giấy tờ).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Lê Thành N phải chịu 200.000 đồng.

Án hình sự sơ thẩm xử công Ki, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ