- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phan Van G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phan Văn G 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/10/2020).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆAN Bản án số: 29/2020/HS-ST Ngày: 28/12/2020 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bạch Hưng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Cao Đức Giang, bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên toà: bà Võ Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D C, tỉnh Ng A, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 41/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn G, (tên gọi khác: không); sinh ngày 27 tháng 3 năm 1986 tại huyện D C, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H T, xã D H, huyện D C, tỉnh N A; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Th C giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị H và 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10 /2020 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/10/2020, tại khu vực chợ Giàn thuộc xã D H, huyện D C, Phan Văn G nhờ một người đàn ông tên T (không rõ họ, tuổi và địa chỉ cụ thể) mua hộ 01 tép Hêrôin và 05 viên hồng phiến. G đưa cho T 500.000 đồng, Tuấn đi đâu đó khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho G 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 05 viên ma túy hồng phiến và 01 gói giấy vở ô li bên trong có chứa chất bột màu trắng. G nhận ma túy bỏ vào túi ngực áo đang mặc rồi đi bộ về đến đoạn đường liên thôn thuộc xóm H T, xã D H, huyện D C thì bị Cn xã D K, huyện D C bắt quả tang lúc 16 giờ 50 phút cùng ngày, thu giữ số ma túy nói trên trong túi áo của G.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 07/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D C và Kết luận giám định số 1403/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 13/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N A xác định: 05 viên nén màu hồng thu giữ của Phan Văn G gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,5 gam; mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Phan Văn G gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin), có tổng khối lượng là 0,05 gam.
Tại bản cáo trạng số 190/CT-VKSDC ngày 25/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện D , tỉnh N A truy tố Phan Văn G về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Văn G từ 15 tháng đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Phan Văn G.
Bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện DC, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: tại phiên toà, Phan Văn G hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/10/2020, tại đường liên thôn thuộc xóm H T, xã D H, huyện D C, tỉnh N A, bị cáo Phan Văn G đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,5 gam ma túy (Methamphetamine) và 0,05 gam ma túy (Hêrôin) nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét cả hai chất ma túy mà bị cáo tàng trữ đều được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 249; tổng khối lượng cả hai chất ma túy là 0,55 gam tương đương với khối lượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện D C, tỉnh Nệ A truy tố Phan Văn G theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác và sự duy trì nòi giống của dân tộc. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Trong tình hình hiện nay, tội phạm về ma tuý trên địa bàn huyện nhà xảy ra nhiều với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Vì thế cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không vì mục đích vụ lợi. Theo tài liệu điều tra thì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,5 gam ma túy (Methamphetamine) và 0,05 gam Hêrôin thu giữ của Phan Văn G đã sử dụng hết 0,2 gam Methamphetamine và 0,05 gam Hêrôin để giám định; còn lại 0,3 gam Methamphetamine cùng 01 vỏ bao nilon, 01 mảnh giấy ô ly kẻ dòng, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho Gg (theo lời khai K), do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra xác minh.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Văn G 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/10/2020).
- Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 phong bì thư niêm phong bên trong có chứa 0,3 gam Methamphetamine cùng 01 vỏ bao nilon, 01 mảnh giấy ô ly kẻ dòng, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu để tiêu hủy.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện DC, tỉnh N A theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2020.
- Án phí: Bị cáo Phan Văn G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND huyện D C; - THA Hình sự huyện D C; - THA Dân sự huyện D C; - Sở Tư pháp tỉnh N A; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | Bạch Hƣng Thành |