vanban.org

Bản án 29/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 02/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trương Tâm E phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Trương Tâm E 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 29/2020/HS-ST

Ngày: 02/07/2020

HUYỆN CM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương. Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Hoàng Thị Thiện Lai. + Ông Huỳnh Tấn Khoa. - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên, thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại ấp AL, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện CM tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2020/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 và thông báo về việc thay đổi thời gian, địa điểm mở phiên tòa số 29/TB-TA ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo: Trương Tâm E, sinh năm 1997, tại huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp AQ, xã MAH B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Trương Văn Lễ, sinh năm 1966 và bà Võ Ngọc Đ, sinh năm 1960; anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là người nhỏ nhất. Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung cha mẹ, đi học đến lớp 9 nghỉ. Ngày 15/3/2020, bị Ủy ban nhân dân xã ATT đưa đi cắt cơn giải độc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang, đến ngày 27/3/2020 bị Cơ quan điều tra bắt tạm giam về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Tiền án, tiền sự: Không. - Bị tạm giam ngày 27/3/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trương Chí T, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp AQ, xã MAH B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (có mặt). Người làm chứng:

- Bà Võ Ngọc Đ, sinh năm 1960; nơi cư trú: ấp AQ, xã MAH B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (có mặt). - Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp AH, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt). - Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp AH, xã ATT, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt). - Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1962; nơi cư trú: ấp LTA, xã LH, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 14/3/2020, Đội Cảnh sát đặc nhiệm - Công an huyện CM phối hợp Công an xã ATT bắt quả tang Trương Tâm E trên đường điều khiển xe mô tô biển số 66H7-2872 đến Tổ 1, ấp AH, xã ATT, huyện CM có tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần phía trước bên phải Tâm E đang mặc, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: 01 bịch nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu cam, 01 quần jean ngắn màu xanh, 01 xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 66H7-2872. *Căn cứ Kết luận giám định số 58/KLGT-PC09(MT) ngày 18/3/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang kết luận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1709 gam. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện CM khởi tố, bắt tạm giam Tâm E để điều tra xử lý. Tại Bản cáo trạng số 21/CT-VKSCM ngày 14 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM đã truy tố bị cáo Trương Tâm E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Trương Tâm E. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo Trương Tâm E từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là chất ma túy; 01 bình nhựa có gắn có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu cam dùng để sử dụng ma túy được thu giữ trong quá trình điều tra và 01 quần jean lỡ màu xanh, không có giá trị sử dụng. - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu trắng có lắp thẻ sim mạng Viettel (đã qua sử dụng), là phương tiện phạm tội. - Đối với xe mô tô, biển số 66H7-2872 và giấy chứng nhận đăng ký xe đã giao trả cho Trương Chí T trong quá trình điều tra, nên đề nghị hội đồng xét xử không đề cập đến. Đối với việc Tâm E khai mua ma túy của Nguyễn Hữu Đ, do người thanh niên lạ giao, hiện chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Riêng, 02 lần mua ma túy của Đ trước đó, do không thu giữ được vật chứng, nên không có cơ sở quy kết. Tại phiên tòa, bị cáo Trương Tâm E thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trương Chí T trình bày: Xe mô tô 66H7-2872, Chí T mua của người lạ giá 10.000.000 đồng để sử dụng, chưa làm thủ tục sang tên. Chí T không biết việc Tâm E tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện, Chí T đã nhận lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe, không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa những người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật. [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trương Tâm E thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong giai đoạn điều tra, truy tố, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1709 gam. Do đó, hành

vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Là công dân đều phải biết ma túy là một chất độc dược, hủy hoại sức khỏe, là nguyên nhân phát sinh những loại tội phạm khác. Nước ta và các nước trên thế giới đều áp dụng mọi biện pháp ngăn chặn và bài trừ việc sản xuất, mua bán, tàng trữ chất ma túy dù dưới bất cứ hình thức hay thủ đoạn nào. Bất kỳ ai có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều được xem là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ bị xử lý kịp thời và nghiêm minh. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có điều kiện làm ăn chân chính để nuôi sống bản thân và gia đình nhưng ngược lại để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã tiếp tay cho bọn tội phạm mà cũng là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần có một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Đối với việc Tâm E khai mua ma túy của Nguyễn Hữu Đ do người thanh niên lạ giao, hiện chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ. Riêng, 02 lần mua ma túy của Đ trước đó, do không thu giữ được vật chứng, nên không có cơ sở quy kết là phù hợp. Đối với ông Trương Chí T mua xe mô tô biển số 66H7-2872 của người lạ giá 10.000.000 đồng để sử dụng, chưa làm thủ tục sang tên. Tâm không biết việc Tâm E tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện, Chí T đã nhận lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe, không yêu cầu gì nên hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. [4]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5]. Về xử lý vật chứng: Lượng ma túy khi thu giữ bị bắt quả tang là chất cấm; 01 bình nhựa có gắn có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu cam được dùng vào việc sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy; 01 một quần jean lỡ màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng có lắp thẻ sim mạng Viettel (đã qua sử dụng) bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ Nhà nước: [6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trương Tâm E phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Trương Tâm E 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2020. 2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; * Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng được thu giữ trong quá trình điều tra gồm: 01 (một) phòng bì thư được niêm phong (Vụ số: 58/KLGT-PC09(MT) ngày 18/3/2020 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện CM, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa và Đặng Hữu Thọ. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định khối lượng: 0,1307g (không phẩy một ba không bảy gam); 01 bình nhựa có gắn có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu cam và 01 quần jean lỡ màu xanh. *Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu trắng có lắp thẻ sim mạng Viettel (đã qua sử dụng). (Hiện vật chứng trên do Cơ quan thi hành án dân sự huyện CM quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2020). 3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ