vanban.org

Bản án 29/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn P.

Tuyên xử: Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1987, được ly hôn với ông Nguyễn P, sinh năm 1987. Giấy chứng nhận kết hôn số 133 của UBND phường HKB, quận L, TP Đà Nẵng cấp ngày 19.7.2018 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị Ngọc C xin ly hôn với ông Nguyễn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2020/HNGĐ-ST
Ngày 10.9.2020
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ và ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký Pên toà: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia Pên toà: Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25.6.2020, quyết định hoãn Pên tòa số 27/2020/QĐST-HN ngày 10.7.2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc C- sinh năm 1987. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn P- sinh năm 1987. (vắng mặt)

Cùng trú tại: K 151/H82/18 Âu Cơ, tổ 55, phường HKB, quận L, TP.Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại Pên toà hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn P kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường HKB, quận L, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống tại gia đình chồng phường HKB, quận L, Tp Đà Nẵng.

Trong quá trình chung sống đến năm 2020 vợ chồng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn là do ông Nguyễn P ghen tuông mù quán từ đó không tin tưởng lẫn nhau, nhiều lần làm tổn thương uy tín của tôi nên tôi đã dọn ra ngoài sống riêng từ ngày 29.3.2020 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn P.

- Về con chung: không có

- Về tài sản chung: không yêu cầu

-Về nợ chung: xác nhận không có.

* Bị đơn là ông Nguyễn P không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc C kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn ông Nguyễn P không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại Pên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

-Về nội dung vụ án: xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã được UBND phường Hòa Khánh Bắc xác nhận nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc C.

- Về con chung, nợ chung: không có nên không xét.

- Về tài sản chung: không yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại Pên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại Pên tòa, HĐXX nhận định:

.Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại Pên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại Pên toà lần thứ nhất ngày 10.7.2020 và cũng như Pên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn Pên toà đối với bị đơn ông Nguyễn P, nhưng ông Nguyễn P vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Nguyễn P.

.Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn P thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc C và ông Nguyễn P kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường HKB, quận L, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường HKB, quận L, Tp Đà Nẵng.

Theo bà Nguyễn Thị Ngọc C trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu là do ông Nguyễn P ghen tuông mù quán từ đó không tin tưởng lẫn nhau, nhiều lần làm tổn thương uy tín của bà Nguyễn Thị Ngọc C, bà và ông P đã không còn sống chung từ tháng 3.2020 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị Ngọc C đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn P.

Trong quá trình giải quyết cũng như tại Pên tòa hôm nay ông Nguyễn P không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng điều này thể hiện ông Nguyễn P không có mong muốn đoàn tụ, bỏ mặc cho mâu thuẩn gia đình ngày càng trầm trọng, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt này.

Theo đơn xác minh tại UBND phường HKB, quận L, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà C và ông P mâu thuẩn như thế nào thì địa phương không rõ nhưng hiện nay bà C và ông P không còn chung sống với nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông P đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà C yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc C khai nhận không có.

- Về t i n chung: bà Nguyễn Thị Ngọc C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Nếu sau này bà C và ông P có tranh chấp về vấn đề con chung; tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng ông Nguyễn Thị Ngọc C phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn P.

Tuyên xử: Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1987, được ly hôn với ông Nguyễn P, sinh năm 1987.

Giấy chứng nhận kết hôn số 133 của UBND phường HKB, quận L, TP Đà Nẵng cấp ngày 19.7.2018 không còn giá trị pháp lý.

2. Về tài s n chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc C không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

3. Về con chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc C xác định không có nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Ngọc C phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004383 ngày 15.5.2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà C đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại Pên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ