- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn L-H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị Thanh L, xử:
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2020/HNGĐ-ST Ngày 28-9-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đình Bảng,
Ông Nguyễn Văn Nhòng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân Huyện Tiên Lãng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 (Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2020), giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Kim Thị Thanh L, sinh năm 19xx, đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã C, Huyện Tiên L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn T, xã L, Huyện S, tỉnh V, có mặt;
- Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 19xx, đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã C, Huyện Tiên L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn (chị Kim Thị Thanh L) trình bày: Chị và anh Vũ Văn H tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã C, Huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 9 năm 2014. Anh chị chung sống với nhau hòa thuận được 01 năm đầu thì mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, một phần do anh H lười lao động, ham chơi không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị L đã kHên bảo anh H nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng vẫn thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Tháng 02 năm 2017, do mâu thuẫn căng thẳng, chị L về nhà bố mẹ đẻ ở thôn T, xã L, Huyện S, tỉnh V sinh sống. Vì mong muốn anh H sinh sống cùng chị ở tỉnh V nhưng anh H không đồng ý nên anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2019 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, chị L yêu cầu ly hôn anh H. Anh chị có một con chung là Vũ Kim H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 20xx. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con chị xin tự thỏa thuận với anh H. Anh chị không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần, yêu cầu anh H giao nộp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh H không thực hiện.
Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh H là do bất đồng nơi sinh sống, chị L mong muốn anh H sống cùng chị ở tỉnh V nhưng anh H không đồng ý nên chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh V sinh sống từ tháng 02 năm 2019 đến nay; anh chị có một con chung như chị L trình bày, từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu H do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay chị L xin ly hôn anh H và nhận trực tiếp nuôi con, Tòa án nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nhận trực tiếp nuôi con của của chị L.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn (chị L) vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn (anh H) vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt tại phiên họp, hòa giải và tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị Kim Thị Thanh L được ly hôn anh Vũ Văn H; giao con Vũ Kim H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con, chị L xin tự thỏa thuận với anh H, anh chị không có tài sản và nợ chung nên không đặt ra để giải quyết; chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình (ly hôn, tranh chấp nuôi con); bị đơn (anh Vũ Văn H) có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn H, xã C, Huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Tiên Lãng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (anh H) đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không chấp hành triệu tập của Tòa án. Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng; sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho anh H thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc anh H không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là tự từ bỏ các quyền và không chấp hành nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
. Bị đơn (anh H) vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh H.
- Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn phù hợp với tài liệu xác minh tại địa phương, thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh H được xác lập do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C vào ngày 18 tháng 9 năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp, bất đồng nơi cư trú, một phần anh H ít quan tâm tới gia đình nên vợ chồng thường hay xô sát, cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Tháng 07 năm 2019, do mâu thuẫn căng thẳng, chị L, anh H đã sống ly thân và không còn quan tấm đến nhau đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, xử cho chị L được ly hôn anh H.
. Về con chung: Anh chị có một con chung là Vũ Kim H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 20xx. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu H do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Khi ly hôn chị L đề nghị Tòa án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác cháu H còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, cần được sự quan tâm chăm sóc của mẹ; chị L hiện tại làm công nhân, có thu nhập ổn định; ngoài việc tự mình trực tiếp chăm sóc con chị còn được sự hỗ trợ từ phía gia đình của chị. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, xử giao con Vũ Kim H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng cho con, vì chị L xin tự thỏa thuận với anh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết, tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên để anh chị tự giải quyết với nhau là phù hợp.
. Về tài sản và nợ chung: Anh chị không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Chị Kim Thị Thanh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị Thanh L, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Kim Thị Thanh L được ly hôn anh Vũ Văn H.
2. Về con chung: Giao con Vũ Kim H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 20xx cho chị Kim Thị Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2020 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
3.Về án phí: Chị Kim Thị Thanh L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0011881 ngày 04 tháng 8 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Tiên Lãng. Như vậy, chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND Huyện Tiên Lãng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Chi cục THADS Huyện Tiên Lãng; - UBND xã C, Huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (ĐKKH 2014); - Lưu: Hồ sơ, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vũ Đình Bảng Nguyến Văn Nhòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hền Trang |