- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "cho ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều O.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2020 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Đào
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trần Phƣớc Ninh;
2- Ông Lê Văn Thuận.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 875/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: G3/6 E khu phố H, phường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ nơi cư trú: Số 33, Hẻm 23 L, khu phố X, phường X, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Hồ Bạch Sơn L, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: G3/6 E khu phố H, phường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 09/12/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O trình bày:
Chị O và anh L chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân tự nguyện. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp tính tình, hay cãi vã không còn tiếng nói chung, anh L ghen tuông vô cớ, cờ bạc gây nợ nần và thường xuyên chửi mắng mẹ con chị. Tháng 7/2019, chị O có nộp đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng sau đó rút đơn khởi kiện để cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng anh L không thay đổi, mâu thuẫn không thể khắc phục. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị O yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh L.
Về con chung: Có 02 người tên Hồ Bạch Yến N, sinh ngày 06.01.2005 và Hồ Gia K, sinh ngày 15.12.2008 hiện đang sống với chị O, sau khi ly hôn chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Hồ Bạch Sơn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng bị đơn anh Hồ Bạch Sơn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị O, anh L theo quy định đại Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị O; về con chung: Đề nghị giao hai con chung cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị O tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung chị O không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Tính án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị O có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Hồ Bạch Sơn L cư trú tại khu phố H, phường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hồ Bạch Sơn L đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là có căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị O và anh L chung sống với nhau từ năm 2004, có thực hiện việc đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị O yêu cầu xin ly hôn vì các lý do xuất phát từ anh L nên vợ chồng hay cãi vã về tình cảm và tiền bạc, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, anh chị sống ly thân từ tháng 6/2019 đến nay không tự hàn gắn được. Mặt khác, vào năm 2019 chị O từng nộp hồ sơ xin ly hôn nhưng đã rút lại đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành (nay là Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành) ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 239/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04.9.2019, đến nay chị O tiếp tục có đơn xin ly hôn với anh L. Ngoài ra, Tòa án đã nhiều lần triệu tập đến Tòa án nhưng anh L luôn vắng mặt không rõ lý do, điều này thể hiện anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của anh chị. Do vậy, yêu cầu được ly hôn chị O là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là Hồ Bạch Yến N, sinh ngày 06.01.2005 và Hồ Gia K, sinh ngày 15.12.2008. Nhận thấy hai con chung của anh chị còn nhỏ, đang sống ổn định với mẹ và cả hai cháu đều có nguyện vọng sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, giao cả hai con chung cho chị O nuôi dưỡng là phù hợp, chị O khai có thu nhập đủ nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị O phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành về việc giải quyết vụ án phù hợp với những nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều O.
Chị Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với anh Hồ Bạch Sơn L.
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Hồ Bạch Yến N, sinh ngày 06.01.2005 và Hồ Gia K, sinh ngày 15.12.2008 cho chị Nguyễn Thị Kiều O tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị O không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu Tòa giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp 300.00
0 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008270 ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành (nay là Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Hòa Thành), tỉnh Tây Ninh, ghi nhận chị O đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị O, anh L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - Chi cục THADS thị xã Hòa Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Đào |