- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa T-nđ với T-bđ"
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 29/2020/HNGĐ- ST Ngày: 30-6-2020 "Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Võ Thành Bê
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 293/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc T-nđ, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp 10C, xã ĐH, huyện An Minh, Kiên Giang. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Văn T-bđ, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp 10C, xã ĐH, huyện An Minh, Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09-12-2019 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc T-nđ trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh T-bđ quen biết nhau trước vì sống gần nhà. Sau đó có người mai mối nên được gia đình 2 bên tổ chức lễ cưới vào tháng 01 năm 2012al. Sau đó đăng ký kết hôn và được UBND xã ĐH, huyện An Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 17-6-2013. Sau khi kết hôn anh, chị sống tại ấp 10C, xã ĐH, huyện An Minh. Vợ chồng sống chung đầm ấm được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn chủ yếu là do hai người không hòa hợp nhau về tính cách và cách sống; anh T-bđ thường xuyên nhậu say và về chửi bới vợ; anh, chị ly thân vào đầu tháng 12-2019, anh T-bđ về nhà cha mẹ ruột (cũng ở ấp 10C, xã ĐH) sống cho đến nay. Sau khi ly thân anh T-bđ không sửa đổi mà còn tiếp tục chửi vợ.
Về con chung: anh, chị có 02 con chung tên Lê Chí T-lq1, sinh ngày 24-11-2013 và Lê Chí K-lq2, sinh ngày 18-9-2015, hiện đang sống với chị T-nđ. Về tài sản, nợ chung: không có. Nghề nghiệp hiện nay của chị T-nđ là nuôi tôm, diện tích nuôi (tự khai) khoảng 15 công đất ruộng, đất thuê của mẹ ruột; thu nhập bình quân mỗi tháng là khoảng 4.000.000đ.
Chị T-nđ khởi kiện xin ly hôn với anh T-bđ; về con chung: xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 đứa con chung, không yêu cầu anh T-bđ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn T-bđ vắng mặt, không có lời trình bày.
Tại biên bản xác minh ngày 06-02-2020 cho thấy, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị T-nđ với anh T-bđ thì địa phương không nắm được nhưng có nghe vợ chồng cự cải nhau.
Tại bản nguyện vọng: cháu T-lq1 có nguyện vọng sống chung với mẹ (là chị T-nđ) sau khi cha mẹ ly hôn.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay phía nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; phía bị đơn vắng mặt nên đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX cho chị T-nđ ly hôn với anh T-bđ; về các con giao cho chị T-nđ trực tiếp nuôi dưỡng, anh T-bđ không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T-bđ đều vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T-bđ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên HĐXX căn
HNST số: 29/2020-2
cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T-bđ.
[2] Về quan hệ hôn nhân, chị T-nđ và anh T-bđ chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã ĐH, huyện An Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 17-6-2013 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Chị T-nđ và anh T-bđ sống chung một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh, chị có nhiều bất đồng về quan điểm, không hòa hợp dẫn đến ly thân từ tháng 12 năm 2019. Trong thời gian ly thân anh, chị chưa có những thay đổi, biện pháp tốt để đoàn tụ. Đồng thời khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị T-nđ thì anh T-bđ không có ý kiến hay động tác gì để hàn gắn mà bỏ mặc; khi Tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh T-bđ vắng mặt không tham dự. Việc anh T-bđ không có ý kiến khi nguyên đơn xin ly hôn, không tham dự phiên hòa giải, phiên tòa vừa vi phạm nghĩa vụ bị đơn vừa đánh mất cơ hội hòa giải đoàn tụ tại Tòa án. Từ đó cho thấy giữa anh T-bđ và chị T-nđ mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị T-nđ được ly hôn với anh T-bđ.
[4] Về con chung, chị T-nđ và anh T-bđ có 02 đứa con chung tên Lê Chí T-lq1, sinh ngày 24-11-2013 và Lê Chí K-lq2, sinh ngày 18-9-2015, hiện đang sống với chị T-nđ. Chị T-nđ có nguyện vọng được nuôi con sau khi ly hôn; anh T-bđ không nêu ý kiến gì. Thấy rằng, trong thời gian qua, chị T-nđ đã trực tiếp nuôi dưỡng con tốt, chưa xảy ra sơ xuất, cháu T-lq1 có nguyện vọng sống chung với chị T-nđ sau khi cha mẹ ly hôn nên HĐXX quyết định giao cho chị T-nđ tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T-nđ không yêu cầu anh T-bđ cấp dưỡng nuôi con cùng chị sau khi ly hôn và xét thấy chị T-nđ có thu nhập đủ để nuôi con. Do đó, anh T-bđ không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị T-nđ không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
[6] Về án phí, nguyên đơn chị T-nđ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
HNST số: 29/2020-3
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 55, khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc T-nđ và anh Lê Văn T-bđ.
2. Về con chung: Giao các con chưa thành niên gồm Lê Chí T-lq1, sinh ngày 24-11-2013 và Lê Chí K-lq2, sinh ngày 18-9-2015 cho chị Nguyễn Ngọc T-nđ tiếp tục nuôi dưỡng (các cháu đang chung sống với chị T-nđ). Anh T-bđ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T-nđ không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí, chị Nguyễn Ngọc T-nđ chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0007609 ngày 19-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh. Chị T-nđ đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị T-nđ có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30-6-2020);
Anh T-bđ vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Minh; - Chi cục THADS huyện An Minh; - Các đương sự; - UBND xã ĐH, AM, KG; - Lưu HS + VP. Lê Chí Công | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công HNST số: 29/2020-4 HNST số: 29/2020-5 |