- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thị H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HS-ST Ngày 09/8/2019 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Ngọc Long.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Hữu Phấu.
Ông Bùi Ánh Dương.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HS ngày 25/7/2019 đối với bị cáo:
Lương Thị H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 9 năm 1984 tại: Huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Nơi ĐKHKTT: Tổ Bản M, thị trấn KY, huyện VB, tỉnh LC; Nơi cư trú: Thôn ĐQ, xã LP, huyện V B, tỉnh L C; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông: Lương Văn Hạt và bà Lý Thị Thông; Có chồng là Vi Văn Q, có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 15/5/2019 đến ngày 21/5/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã LP, huyện VB, tỉnh LC -“Có mặt” .
Người làm chứng:
Anh Hoàng Đình N, sinh năm 1985.
Trú tại: Thôn NK, xã KYT, huyện VB, tỉnh LC -“Vắng mặt”
Chị Lương Thị Tấm, sinh năm 1979.
Trú tại: Thôn ĐQ, xã LP, huyện V B, tỉnh L C -“Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 15 phút, ngày 15/5/2019 tại thôn ĐQ, xã LP, huyện VB, Công an huyện Vb bắt quả tang Lương Thị H, sinh năm 1985 HKTT tại Tổ Bản M, thị trấn KY, huyện VB, tỉnh LC; Tạm trú tại: Thôn ĐQ, xã LP, huyện VB, đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đình N, sinh năm 1985, trú tại thôn NK, xã KYT, VB. Quá trình bắt quả tang Hoàng Đình N tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên phải đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng vón cục giao nộp và khai nhận là ma túy vừa mua được của H. Khi được yêu cầu Lương Thị H đã tự giác lấy từ trong túi đeo bên người ra số tiền 50.000đ và lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 túi ni lon màu xanh bên trong đựng 38 gói giấy bạc, màu trắng bên trong các gói đều chứa, chất bột khô, màu trắng, vón cục, giao nộp khai nhận là ma túy của H, số tiền 50.000đ H khai là tiền bán ma túy cho N mà có. Công an lập biên bản quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai trưa ngày 12/5/2019, bị cáo gặp và mua của 01 người phụ nữ không quen biết ở khu vực bến xe cũ thị trấn K Y, huyện VB được 01 gói ma túy với giá 2.000.000đ. H đem ma túy về nhà chia tách gói được 39 gói (trong đó 30 gói định bán với giá 100.000đ/ 01 gói, còn 9 gói định bán 50.000đ/ 01 gói) đến khoảng 16 giờ ngày 15/5/2019 đã bán cho N 01 gói giá 50.000đ thì bị bắt quả tang.
Kết luận giám định số 131 ngày 17/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,73gam chất bột khô, màu trắng vón cục thu giữ của Lương Thị H và 0,01gam chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Hoàng Đình N gửi giám định là loại chất ma túy heroine.
Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 03/7/2019 của Viện kiểm sát huyện Văn Bàn, truy tố bị cáo Lương Thị H để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát huyện Văn Bàn, qua thẩm vấn làm rõ đã nêu quan điểm luận tội và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Lương Thị H, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Điều luật áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lương Thị H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Không đề nghị phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,64g heroine còn lại sau giám định, được tái niêm phong bàn giao Chi cục Thi hành án dân sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ là tiền do phạm tội mà có.
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, xử lý vật chứng: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận hành vi đang bán trái phép 01 gói ma túy loại heroin cho Hoàng Đình N, thì bị Công an huyện Văn Bàn bắt quả tang. Công an đã thu giữ 01 gói ma túy do Hoàng Đình N giao nộp, thu giữ của bị cáo số tiền 50.000đ tiền mà do bán ma túy mà có và giao nộp 38 gói ma túy loại heroine.
Như vậy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ, hành vi bán trái phép 01 gói ma túy heroine có trọng lượng 0,01g của bị cáo đã thành lập, ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 0,73g chất ma túy heroine mục đích để bán kiếm lời. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lương Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, xong bị cáo đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy heroin 0,01g và tàng trữ 0,73g heroine mục đích để bán kiếm lời, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần có một hình phạt nghiêm khắc trước pháp luật để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như nhằm răn đe, phòng ngừa chung tác hại của ma túy.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình xét xử HĐXX xem xét tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Gia đình bị cáo có bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 2 và huy chương chiến sỹ giải phóng đây là tình tiết quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bỏ số tiền 2.000.000đ để mua ma túy heroin về chia tách bán kiếm lời, số tiền bị cáo bỏ ra mua ma túy không hề nhỏ, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo có giao nộp tài liệu chứng cứ giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo mang tên hộ Vi Văn Q, sinh năm 1984, trú tại Tổ Bản M, thị trấn KY, huyện VB, tỉnh LC (là chồng bị cáo), xong tên các thành viên trong hộ không có tên bị cáo do bị cáo và anh Vi Văn Q đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2016 đến nay, bị cáo hiện cư trú tại Thôn ĐQ, xã LP, huyện V B, tỉnh L C. Do vậy đối với việc giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo mang tên hộ Vi Văn Q do UBND thị trấn KY chứng nhận Hội đồng xét xử không chấp nhận và quyết định phạt bổ sung bị cáo bằng phạt tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo quy định tại khoản 5 Điều 251 để nộp Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,64g Heroine là vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định được tái niêm phong, chuyển bàn giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Tịch thu 50.000đ tiền của bị cáo Lương Thị H giao nộp là tiền do phạm tội bán ma túy mà có nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Lương Thị H ở khu vực bến xe cũ thị trấn KY, huyện VB quá trình điều tra xác minh không làm rõ được người phụ nữ có đặc điểm như bị cáo khai nên không có căn cứ giải quyết.
Đối với Hoàng Đình N đã mua 01 gói ma túy của Lương Thị H ngày 15/5/2019, do khối lượng ma túy chưa đến mức xử lý hình sự nên cơ quan Công an đã xử lý hành chính là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lương Thị H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, khấu trừ 06 ngày tạm giữ. Phạt bổ sung 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,64g Heroine đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Lương Thị H và Hoàng Đình N có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 15/5/2019 tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”. Mặt sau có 02 chữ ký của người tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Theo biên bản giao nhận ngày 05/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Tịch thu số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) do bị cáo Lương Thị H giao nộp là tiền do phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lương Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND Tỉnh(01); - VKSND Tỉnh (01); - VKSND huyện(01); - Công an huyện(02); - Sở tư pháp (01); - UBND thị trấn KY; - UBND xã Liêm Phú; - Bị cáo(01); - THAHS, THADS(04); - Lưu HS, LĐ, VP(04). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Triệu Hữu Phấu Bùi Ánh Dương | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vương Ngọc Long THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Ngọc Long |