vanban.org

Bản án 29/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Chung Kiều L 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) được trừ số tiền 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0007028 ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Hậu Giang. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 20.000.000 đồng (hai mươi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chung Thị Kiều Lan và Nguyễn Thị Thúy - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ B
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2019/HS-ST
Ngày 29/10/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khởi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tỉnh

2. Ông Nguyễn Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Chung Kiều L, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 29/02/1992; Nơi đăng ký thường trú: ấp Đông A, xã Tân T, thị xã B, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông Chung Văn Q, sinh năm: 1969 (sống) và bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1972 (chết); có chồng là Chu Huy, quốc tịch Trung Quốc (đã ly thân); có một người con sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự 01 lần: Vào ngày 23/01/2019 bị Công an xã Tân T, thị xã B, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong; bị khởi tố vào ngày 13/7/2019 cho tại ngoại đến nay.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị T, Tên gọi khác: Không; sinh năm 1984; Nơi đăng ký thường trú: ấp Đông A, xã Tân T, thị xã B, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1947 (sống) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1953 (sống); có chồng là Lê Hữu L và có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự 01 lần: Vào ngày 23/01/2019 bị Công an xã Tân T, thị xã B, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt xong; bị khởi tố vào ngày 13/7/2019 cho tại ngoại điều tra đến nay.

Các bị cáo có mặt tại toà.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1960, cư trú tại ấp Đông A, xã Tân T, thị xã B, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1963, cư trú tại số nhà X, đường Nguyễn X, phường Long B, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 12/3/2019 bị cáo Chung Kiều L và bị cáo Nguyễn Thị T cùng Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H rủ nhau chơi đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, tại phần đất trống thuộc ấp Đông A, xã Tân T, thị xã B, tỉnh Hậu Giang. Hình thức đánh bài mỗi người được chia 20 lá bài, người nào đánh trước được chia 21 lá, ai hết cây lẻ (rác) trước thì tới. Có 02 hình thức tới trơn ăn mỗi tụ 10.000 đồng và tới quan (có 04 lá bài giống nhau) ăn mỗi tụ 20.000 đồng. Riêng bị cáo T và bà H ít tiền hơn nên mức độ ăn thua chỉ bằng ½ tức là tới trơn 5.000 đồng và tới quan 10.000 đồng, khi chơi đuợc 03 bàn đã chung tiền xong, và tới bàn thứ 4 thì bị Công an bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Trên chiếu bạc gồm: 08 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu; tiền Việt Nam 10.000 đồng (mười nghìn đồng, không xác định được của ai). Thu giữ của bị cáo Chung Kiều L: 1.010.000 đồng (một triệu, không trăm mười nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Iphone 7 plus; Nguyễn Thị H: 01 điện thoại di động Oppo màu đen; Nguyễn Thị H: 2.460.000 đồng (hai triệu bốn trăm sáu chục nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Cogo; của bị cáo Nguyễn Thị T: 210.000 đồng (hai trăm mười nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu đỏ.

Xử lý vật chứng: Công an xã Tân T đã trả lại các tài sản cho: Bị cáo Chung Kiều L: 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Iphone 7 plus; Nguyễn Thị H: 2.130.000 đồng (hai triệu một trăm ba chục nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Cogo; Nguyễn Thị H: 01 điện thoại di động Oppo màu đen; bị cáo Nguyễn Thị T: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu đỏ do không liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra xác định được số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo Chung Kiều L là 110.000 đồng, của bị cáo Nguyễn Thị T là 210.000 đồng, của bà Nguyễn Thị H là 330.000 đồng.

Căn cứ Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, xác định số tiền tham gia đánh bạc của các đối tượng trong ngày 12/3/2019: 110.000 đồng + 210.000 đồng + 330.000 đồng + 10.000 đồng (trên chiếu bạc) = 660.000 đồng (sáu trăm sáu chục nghìn đồng).

Đối với hành vi của Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H qua xác minh chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, nên chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự. Vào ngày 12/04/2019 Công an xã Tân T ra quyết định xử lý vi phạm hành chính.

Cáo trạng số 32/CT-VKS- TXNB, ngày 20/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Hậu Giang quyết định truy tố các bị cáo Chung Kiều L và bị cáo Nguyễn Thị T có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Toà án nhân dân thị xã B, tỉnh Hậu Giang để xét xử về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Chung Kiều L và Nguyễn Thị T theo tội danh và điều luật như quyết định cáo trạng đã truy tố. Phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Chung Kiều L số tiền 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy:

08 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 660.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T thừa nhận toàn bộ hình vi phạm tội đã thực hiện theo nội dung Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên toà các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 12/3/2019 các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T tham gia đánh bạc với Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H, với hình thức chơi bài tứ sắc, ăn thua bằng tiền, bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang, xác định số tiền tham gia đánh bạc là 660.000 đồng (sáu trăm sáu chục nghìn đồng). Các bị cáo đã có tiền sự về hành vi đánh bạc, nên lần vi phạm này đã đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Nên cáo trạng Viện Kiểm sát truy tố bị cáo về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Các bị cáo nhận thức được đánh bài ăn thua bằng tiền là trái quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trât tự tại địa phương và xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà Nước. Nhưng vì nhằm mục đích thu lợi bất chính, nên các bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn không từ bỏ việc đánh bạc. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Chung Kiều L và bị cáo Nguyễn Thị T qua sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt quy định của pháp luật theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu 08 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng đánh bạc 660.000 đồng (sáu trăm sáu chục nghìn đồng).

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017); điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Chung Kiều L 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) được trừ số tiền 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0007028 ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Hậu Giang.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017); điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) được trừ số tiền 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0007027 ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Hậu Giang.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tịch thu tiêu hủy 08 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng đánh bạc 660.000 đồng (sáu trăm sáu chục nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị Quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Chung Kiều L và Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ