- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Láo T cùng đồng bọn phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T (Chảo Láo S) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2019/HS-ST Ngày 18 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đ c Th nh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Phạm Huy Cảm
Ông: Hoàng Văn Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nhâm Đình Mạnh - Thư Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại tr sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai, xét xử công hai v án hình sự sơ thẩm th l số: 23/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2019 theo Quyết đ nh đưa v án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2019 đối với các b cáo:
1. Tẩn Láo T1
Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1999, tại huyện B, t nh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn N1, xã D, huyện B, t nh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Tẩn Ch n V sinh năm 1981, con bà Tẩn Tả M sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Không; B cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 15 tháng 10 năm 2018, hiện đang b tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai. Có m t.
Người bào chữa cho b cáo: Bà Nguyễn Th Thu Hiền, Trợ giúp viên pháp l nhà nước t nh Lào Cai, có m t
2. Tẩn Láo T2
Sinh ngày 16 tháng 5 năm 1999, tại huyện B, t nh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn N1, xã D, huyện B, t nh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Tẩn Phù L sinh năm 1982, con bà Chảo Ú M sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Không; B cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 15 tháng 10 năm 2018, hiện đang b tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai. Có m t.
Người bào chữa cho b cáo: Bà La Th Huyền Trang, Trợ giúp viên pháp l nhà nước t nh Lào Cai, có m t
3. Tẩn Láo T3
Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1999, tại huyện B, t nh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Tr, xã D, huyện B, t nh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Tẩn Phù V sinh năm 1977, con bà Tẩn Tả M sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Không; B cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 15 tháng 10 năm 2018, hiện đang b tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai. Có m t.
Người bào chữa cho b cáo: Bà Lê Họa Thu, Trợ giúp viên pháp l nhà nước t nh Lào Cai, có m t
4. Tẩn Phù T (Tên gọi hác: Chảo Láo S)
Sinh ngày 03 tháng 5 năm 1990, tại huyện B, t nh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Tr, xã D, huyện B, t nh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Chảo Phù M (đã chết), con bà Tẩn Lở M sinh năm 1955; Vợ: Tẩn Tả M sinh năm 1992; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không, tiền sự: Không; B cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 15 tháng 10 năm 2018, hiện đang b tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai. Có m t.
Người bào chữa cho b cáo: Bà Nguyễn Th Thu Hiền, Trợ giúp viên pháp l nhà nước t nh Lào Cai, có m t
* Người có quyền lợi liên quan: Ch Tẩn Tả M, sinh năm 1992, trú tại thôn Tr, xã D, huyện B, t nh Lào Cai; Có m t.
* Người phiên d ch: Anh Hoàng Văn Nam, 35 tuổi, dân tộc Dao, trú tại tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai. Có m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 15/10/2018, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa hẩu Quốc tế Lào Cai phối hợp cùng đội Đ c nhiệm phòng chống ma túy Đồn Biên phòng t nh Lào Cai làm nhiệm v tại hu vực tổ 8, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, t nh Lào Cai phát hiện hai nam giới có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Tổ công tác tiến hành iểm tra hành chính hai người nam giới này hai tên là Tẩn Láo T1, tên gọi hác Tả 1, sinh ngày 22/08/1999 và Tẩn Láo T2, tên gọi hác Tả 2, sinh ngày 16/05/1999 (cùng trú tại: thôn N1, xã D, huyện B, t nh Lào Cai) đang cất giấu ma túy trên người với m c đích để mang đi bán. Trước sự ch ng iến của ông Lê Quý Th (sinh năm 1963, trú tại: tổ 8, phường L, thành phố L, t nh Lào Cai) Tả 1 đã tự giác lấy từ trong túi quần phía trước, bên trái đang m c ra 02 (hai) gói ni lon màu xanh, bên trong đều ch a c c chất bột hô màu trắng đ c, vón c c và 01 (một) gói ni lon màu đen bên trong ch a chất dẻo màu nâu đen. Tẩn Láo T1 (Tả 1) và Tẩn Láo T2 (Tả 2) hai nhận 02 (hai) gói ni lon màu xanh, bên trong đều ch a c c chất bột hô, màu trắng đ c, vón c c là ma túy Hêrôin; 01 (một) gói ni lon màu đen, bên trong ch a chất dẻo màu nâu đen là thuốc phiện. Số ma túy trên Tả 1, Tả 2 mua của Tẩn Láo T3 tên gọi hác Tả 3, sinh 15/08/1999 và một người đàn ông tên S (cùng trú tại thôn Tr, xã D, huyện B, t nh Lào Cai) tại Km 0, xã B, huyện B, t nh Lào Cai với giá 5.900.000 đồng đã trả 1.500.000 đồng, còn nợ lại 4.400.000 đồng hẹn ra cầu Cốc Lếu, thành phố L bán được ma túy sẽ trả nốt tiền. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật ch ng trước sự ch ng iến của ông Lê Qu Th.
Trên cơ sở từ những lời hai nhận của Tẩn Láo T1 (Tả 1) và Tẩn Láo T2 (Tả 2), Đồn biên phòng cửa hẩu quốc tế Lào Cai đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp hẩn cấp đối với Tẩn Láo T3, tên gọi hác Tả 3, sinh ngày 15/08/1999 và Tẩn Phù T, tên gọi hác Chảo Láo S, sinh ngày 03/05/1990 (cùng trú tại thôn Tr, xã D, huyện B, t nh Lào Cai).
Tại ết luận giám đ nh số 205/GĐMT ngày 17/10/2018, của Phòng ỹ thuật hình sự Công an t nh Lào Cai ết luận:
M1: 3,75 (ba phẩy bẩy mươi lăm) gam chất bột hô, màu trắng, vón c c gửi giám đ nh là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin);
M2: 3,70 (ba phẩy bẩy mươi) gam chất bột hô, màu trắng, vón c c gửi giám đ nh là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin);
M3: 26 (hai mươi sáu) gam chất nhựa dẻo màu nâu đen gửi giám đ nh là Nhựa thuốc phiện.
Cơ quan giám đ nh đã trích mẫu 0,33 gam Heroine và 1,17 gam nhựa thuốc phiện. Số ma túy còn lại là 7,12 gam Heroine và 24,83 gam nhựa thuốc phiện chuyển lại cơ quan đã trưng cầu để giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
Quá trình điều tra các b can Tẩn Láo T1(Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T hai nhận từ ngày 13/10/2018 đến ngày 15/10/2018 các b cáo đã ba lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy c thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 12/10/2018, Tẩn Láo T1 (Tả 1) đi bộ trên đường Thủy Hoa thuộc phường D, thành phố L thì g p một người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) nhờ mua hộ 05 ch thuốc phiện và 01 ch Hêrôin, người nam giới đưa trước cho Tả 1 1.000.000 đồng. Đến hoảng 16 giờ cùng ngày có một người ph nữ gọi điện cho Tả 1 nói là ch của người nam giới lúc trước hỏi mua ma túy và hỏi Tả 1 có mua được ma túy hông, Tả 1 nói “có tiền về mới hỏi được ma túy”, người này hẹn g p Tả 1 ở công viên Hồ Chí Minh thuộc phường P, thành phố L để đưa tiền. Tả 1 cùng Tả 2 đến công viên Hồ Chí Minh thì có hai người ph nữ ( hông biết tên, đ a ch c thể) đi xe máy đến, người ph nữ ngồi sau, xuống xe đưa cho Tả 1 2.000.000 đồng và nói “cầm tiền mua hộ ch ”. Tả 1 cùng Tả 2 đi xe Taxi của một người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) về thôn D, xã D, huyện B chơi. Tại đây Tả 1 nói với Tả 2 “mày xem việc đi mua ma túy bán thế nào, tiền lãi sẽ chia đôi”, Tả 2 đồng . Đến hoảng 08 giờ ngày 13/10/2018, Tả 1 gọi điện cho Tẩn Láo T3 (Tả 3) hỏi mua 05 ch thuốc phiện, 01 ch Hêrôin”. Tả 3 gọi điện cho Tẩn Phù T hỏi mua ma túy theo yêu cầu của Tả 1, Tẩn Phù T trả lời “để đi tìm”. Tẩn Phù T điều hiển xe máy Yamaha Nouvo màu trắng đen, biển iểm soát 24B2-338.74, đến nhà một người ph nữ ở cùng thôn ( hông biết họ tên, tuổi c thể) hỏi mua ch u 05 (năm) ch thuốc phiện giá 01 triệu đồng, 01 (một) ch Hêrôin với giá 1.500.000 đồng. Người ph nữ đưa cho Tẩn Phù T túi ni lon màu đen đựng ma túy. Tẩn Phù T cất giấu ma túy vào túi áo hoác ngoài bên phải rồi điều hiển xe máy về g p Tả 3, Tẩn Phù T đưa ma túy cho Tả 3 và nói mua 05 ch thuốc phiện giá 1.000.000 đồng, 01 ch Hêrôin giá 1.800.000 đồng. Sau đó Tả 3 gọi điện cho Tả 1 nói 05 ch thuốc phiện giá 1.500.000 đồng, 01 ch Hêrôin giá 2.000.000 đồng và hẹn g p nhau tại đường rẽ vào thôn Trung Chải, xã D, huyện B để mua bán ma túy. Tả 1, Tả 2 đi xe hách tuyến Bát Xát - Lào Cai xuống thôn Trung Chải, trên xe Tả 1 bảo Tả 2 góp 2.750.000 đồng để mua ma túy, còn Tả 1 góp vào 750.000 đồng. Khi xe hách đến đường rẽ vào thôn Trung Chải, Tả 1 xuống xe g p Tả 3, Tả 3 đưa cho Tả 1 01 túi ni lon màu đen bên trong có 05 ch thuốc phiện, 01 ch Hêrôin, Tả 1 cất giấu ma túy vào túi áo hoác ngoài bên trái đang m c rồi trả cho Tả 3 3.500.000 đồng, sau đó lên xe hách cùng Tả 2 về thành phố L. Còn Tả 3 đi về g p Tẩn Phù T đưa cho Tẩn Phù T 3.050.000 đồng bao gồm tiền lãi 550.000 đồng và tiền để trả tiền mua ma túy là 2.500.000 đồng, Tả 3 lấy 450.000 đồng tiền bán ma túy lãi. Nhận được tiền từ Tả 3, Tẩn Phù T cầm 2.500.000 đồng về trả tiền mua ma túy của người ph nữ cùng thôn. Số tiền lãi từ việc mua bán trái phép chất ma túy, Tẩn Phù T và Tả 3 đã tiêu sài cá nhân hết. Còn Tả 1 và Tả 2 đi xe hách về đến bến xe P, thành phố Lào Cai sau đó gọi điện cho người ph nữ đã đ t mua ma túy, hẹn g p nhau tại đường đôi đối diện bến xe P, thành phố Lào Cai để giao ma túy. Đến chỗ hẹn Tả 1 đưa ma túy cho người ph nữ đ t mua ma túy, người này trả thêm cho Tả 1 3.500.000 đồng và đưa trước 1.000.000 đồng. Sau đó Tả 1, Tả 2 xuống xe, Tả 1 đưa cho Tả 2 số tiền 4.500.000 đồng rồi cả hai đi thuê phòng trọ ngh . Số tiền lãi từ việc mua bán trái phép 05 ch thuốc phiện và 01 ch Hêrôin là 3.000.000 đồng, các b cáo Tả 1 và Tả 2 đã dùng để trả tiền Taxi, trả tiền thuê phòng trọ và tiêu sài cá nhân hết. Ở lần phạm tội này Tả 3 được lợi 450.000 đồng, Tẩn Phù T được lợi 550.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/10/2018, Tẩn Láo Tả (Tả 1) và Tẩn Láo Tả (Tả 2) đang ở phòng trọ, thì người ph nữ đ t mua ma túy ngày 13/10/2018 gọi điện cho Tả 1 hỏi mua 02 ch Hêrôin và hẹn g p nhau tại đường Minh Khai, phường P, thành phố Lào Cai để lấy tiền đi mua ma túy. Tả 1, Tả 2 đi bộ đến điểm hẹn thì có một người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) đi xe máy đến hỏi Tả 1 “hôm trước chúng mày còn nợ một triệu đúng hông” Tả 1 trả lời “vâng”, người nam giới đưa cho Tả 1 3.000.000 đồng để đi mua ma túy. Sau đó Tả 1 gọi điện cho Tẩn Láo Tả (Tả 3) hỏi mua 02 ch Hêrôin, Tả 3 nói 2.200.000 đồng 01 ch , Tả 1 đồng và hẹn g p nhau tại Km0, xã B, huyện B để mua bán ma túy. Sau hi nghe điện thoại của Tả 1, Tả 3 gọi điện cho Tẩn Phù T nói đi mua 02 ch Hêrôin về bán cho Tả 1. Tẩn Phù T đồng và điều hiển xe máy biển iểm soát 24B2-338.74 đón Tả 3 cùng đi đến nhà người ph nữ đã bán ma túy cho Tẩn Phù T ngày 13/10/2018. Khi đi đến đầu đường rẽ vào nhà người ph nữ bán ma túy, Tẩn Phù T xuống xe, một mình đi bộ vào mua ch u 02 ch Hêrôin đựng trong chiếc túi ni lon màu đen với giá 3.000.000 đồng rồi quay ra chỗ Tả 3 chở Tả 3 đi ra Km0, xã B để bán ma túy, trên đường đi Tẩn Phù T đưa ma túy cho Tả 3 cất giấu. Tả 1 cùng Tả 2 đi xe Taxi của người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) lên Km0, xã B để mua ma túy. Đến nơi cả hai vào quán nước ven đường uống nước, tại đây Tả 1 bảo Tả 2 góp 2.500.000 đồng để mua ma túy còn Tả 1 góp 1.900.000 đồng. Một lúc sau thì Tả 3, Tẩn Phù T đến, Tả 3 đưa cho Tả 1 01 túi ni lon màu đen bên trong ch a 02 ch Hêrôin, Tả 1 trả cho Tả 3 4.400.000 đồng. Sau đó Tả 1 cùng Tả 2 đi xe Taxi của người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) về thành phố L. Còn Tả 3 và Tẩn Phù T đi xe máy về nhà, trên đường về Tả 3 đưa cho Tẩn Phù T 4.400.000 đồng tiền bán ma túy. Tẩn Phù T lấy 800.000 đồng tiền bán ma túy lãi và 3.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy của người ph nữ cùng thôn, cho Tả 3 600.000 đồng tiền lãi. Số tiền lãi từ việc bán 02 ch Hêrôin, Tả 3 và Tẩn Phù T đã tiêu sài cá nhân hết. Còn Tả 1 và Tả 2 đi Taxi về đến cầu chui thuộc phường Lào Cai, thành phố lào Cai, Tả 1 gọi điện cho người ph nữ đ t mua ma túy hẹn g p tại cầu chui để mua bán ma túy. Khoảng 30 phút sau có một người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) đi xe máy đến, giới thiệu là em trai của người ph nữ đ t mua ma túy, đến để mua ma túy. Tả 1 đưa túi ni lon màu đen bên trong có 02 ch Hêrôin cho người nam giới, người này trả thêm cho Tả 1 2.000.000 đồng tiền mua ma túy. Sau đó Tả 1 và Tả 2 về phòng trọ Tả 1 trả cho Tả 2 2.500.000 đồng tiền góp mua ma túy. Số tiền iếm lời từ việc mua bán ma túy là 1.600.000 đồng, Tả 1 và Tả 2 đã trả tiền Taxi và tiêu sài cá nhân hết. Ở lần phạm tội này Tả 3 được hưởng lợi 600.000 đồng, Tẩn Phù T được lợi 800.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/10/2018, Tẩn Láo T1 (Tả 1) đang ở phòng trọ thì người ph nữ mua ma túy hai lần trước gọi điện hỏi mua 05 ch thuốc phiện và 02 ch Hêrôin. Hẹn 18 giờ cùng ngày g p nhau ở đường Minh Khai thuộc phường P, thành phố L để đưa tiền mua ma túy. Khoảng 18 giờ cùng ngày Tả 1 cùng Tẩn Láo T2 (Tả 2) đi ra đường Minh Khai thì thấy có một người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) đi xe máy, chở sau là người ph nữ mua ma túy đến, người ph nữ xuống xe đưa cho Tả 1 3.000.000 đồng để đi mua ma túy. Sau hi nhận tiền Tả 1 gọi điện cho Tẩn Láo Tả (Tả 3) hỏi mua 05 (năm) ch thuốc phiện và 02 (hai) ch Hêrôin, Tả 3 đồng và hẹn g p nhau mua bán ma túy tại Km0, xã B, huyện B. Sau đó, Tả 1 và Tả 2 đi xe Taxi của người nam giới ( hông biết tên, đ a ch c thể) lên Km0, xã B, huyện B. Còn Tả 3 đi đến nhà Tẩn Phù T bảo đi mua 05 (năm) ch thuốc phiện và 02 (hai) ch Hêrôin mang ra Km0, xã B, huyện B bán cho Tả 1 và Tả 2. Tẩn Phù T bảo Tả 3 đi mua về Tẩn Phù T chở đi bán. Tả 3 đi đến nhà người ph nữ cùng thôn ( hông biết tên, tuổi c thể) mà Tẩn Phù T đã mua ma túy 2 lần (ngày 13,14/10/2018) mua ch u 05 (năm) ch thuốc phiện với giá 1.000.000 đồng và 02 (hai) ch Hêrôin với giá 3.000.000 đồng được đựng trong túi ni lon màu đen. Tả 3 cất giấu ma túy rồi đi về g p Tẩn Phù T, Tẩn Phù T điều hiển xe máy biển iểm soát 24B2-338.74 chở Tả 3 đi bán ma túy. Khoảng 19 giờ cùng ngày Tả 1, Tả 2 g p Tả 3 và Tẩn Phù T tại Km0, xã B, huyện B. Tại đây Tả 3 đưa cho Tả 1 túi ni lon màu đen bên trong có ch a 05 (năm) ch thuốc phiện và 02 (hai) ch Hêrôin, Tả 1 trả trước cho Tả 3 1.500.000 đồng, nợ lại 4.400.000 đồng hẹn ra cầu Cốc Lếu, thành phố L, sau hi bán được ma túy sẽ trả nốt. Sau đó Tả 1, Tả 2 lên xe Taxi đi về thành phố Lào Cai. Tẩn Phù T cũng điều hiển xe máy chở Tả 3 ra cầu cốc Lếu, thành phố L. Trên đường đi, Tả 1 xuống xe lấy từ trong túi ni lon màu đen ra 02 (hai) túi ni lon màu xanh có ch a Hêrôin và 01 (một) túi ni lon màu đen có ch a thuốc phiện, cất giấu vào túi quần phía trước, bên trái đang m c rồi gọi điện cho người ph nữ mua ma túy hẹn mua bán ma túy tại hu vực cổng đền Thượng thuộc tổ 8, phường L, thành phố L. Đến hu vực cổng đền Thượng, Tả 1 và Tả 2 xuống xe đi bộ để g p người ph nữ mua ma túy thì b tổ công tác Đồn biên phòng cửa hẩu quốc tế Lào Cai phối hợp cùng đội Đ c nhiệm phòng chống ma túy Đồn biên phòng t nh Lào Cai bắt quả tang.
Tổng 3 lần mà các b cáo tham gia giao d ch, mua bán trái phép các chất ma túy là 18,625 gam Hêrôin và 44,75 gam Nhựa thuốc phiện.
Số tiền 3.000.000 đồng người ph nữ đưa cho Tả 1, b cáo đã đưa cho Tả 3 1.500.000 đồng, chi tiền thuê xe Ta Xi hết 400.000 đồng, còn lại 1.100.000 đồng b cáo đã đánh rơi mất nên hông thu giữ được.
Số tiền 1.500.000 đồng mà b cáo Tả 3 nhận được từ Tả 1, Tả 3 đã đưa cho Tẩn Phù T đổ xăng xe hết 100.000 đồng, chi uống nước 50.000 đồng, chia cho Tả 3 200.000 đồng còn 1.150.000 đồng Tẩn Phù T giữ lại thì b thu giữ.
Cáo trạng số 24/CT-VKSTPLC ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Viện iểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố đối với Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p hoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp d ng điểm b, p hoản 2 Điều 251, điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1) m c án từ 09 năm đến 10 năm tù, xử phạt các b cáo, Tẩn Láo T3 (Tả 3), Tẩn Phù T m c án từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù. Áp d ng điểm b, p hoản 2 Điều 251, điểm r, s, t hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt b cáo Tẩn Láo T2 (Tả 2) m c án từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù. Không áp d ng hình phạt bổ sung theo hoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với các b cáo, truy thu toàn bộ số tiền do các b cáo phạm tội để nộp vào ngân sách nhà nước.
Áp d ng điểm a, b, c hoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c hoản 2, điểm a hoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự. T ch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau trích mẫu. T ch thu sung quỹ nhà nước số điện thoại di động mà các b cáo sử d ng vào việc mua bán ma túy, trả lại các giấy tờ tùy thân cho các b cáo, truy thu số tiền do các b cáo phạm tội mà có, t ch thu tr giá 1/2 chiếc xe máy của vợ chồng b cáo Tẩn Phù T. Tuyên án phí và quyền háng cáo đối với các b cáo theo quy đ nh pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho các b cáo nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, về v trí vai trò của từng b cáo trong v án. Tuy nhiên đề ngh Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân và điều iện sống vì bản thân các b cáo đều là người dân tộc thiểu số, chưa có tiền án, tiền sự, sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận th c về pháp luật có nhiều hạn chế. Trong quá trình tố t ng đã tự nguyện hai báo ra các lần phạm tội trước đó. Tại phiên tòa, các b cáo đều có thái độ thành hẩn hai báo. Vì vậy đề ngh Hội đồng xét xử áp d ng các tình tiết giảm nhẹ như: “Tự thú”. “Thành hẩn hai báo” được quy đ nh tại các điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các b cáo. Riêng b cáo Tả 2 còn được cơ quan điều tra xác nhận đã cung cấp thông tin giúp cơ quan điều tra phá án trong một v án hác, do vậy cần áp d ng thêm cho b cáo tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy đ nh tại điểm t hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy đề ngh xét xử b cáo Tả 1 8 năm tù, các b cáo còn lại xử phạt 7 năm tù, hông áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các b cáo.
Các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T đều hai nhận các hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố và xác nhận trong suốt quá trình tố t ng đều hai báo tự nguyện và hông hề b ép cung, dùng nh c hình. Các b cáo đều trình bày vì hám lời nên hi có người nhờ mua ma túy nên đã tìm mua ma túy bán lại để hưởng chênh lệch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung v án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về hành vi, quyết đ nh tố t ng của cơ quan Bộ đội Biên phòng, cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy đ nh của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các b cáo hông có
iến ho c hiếu nại về hành vi, quyết đ nh của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng, cơ quan và người được giao một số hoạt động điều tra. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng và cơ quan ch c năng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời hai của các b cáo phù hợp với nhau, phù hợp biên bản thu giữ vật ch ng, Kết luận giám đ nh của phòng ỹ thuật hình sự Công an t nh Lào Cai và các tài liệu hác có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở ết luận từ ngày 13/10/2018 đến ngày 15/10/2018 các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2) đã 3 lần giao d ch với Tẩn Láo T3 (Tả 3) để hỏi mua ma túy. Sau đó Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T đã đi mua ma túy của một người ph nữ trong thôn Tr, xã D, huyện B, t nh Lào Cai về bán lại cho Tẩn Láo T1 (Tả 1) để hưởng tiền chênh lệch.
Trong 2 ngày 13 và 14/10/2018, các b cáo đã tham gia giao d ch, mua bán 05 ch nhựa Thuốc phiện và 03 ch Hêrôin. Theo Ngh đ nh số 86/2012/NĐ-CP ngày 19/10/2012 (gọi tắt là Ngh đ nh 86) quy đ nh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đo lường, ban hành èm theo Ph l c IV đơn v đo chuyên ngành đ c biệt, đơn v đo theo tập quán trong nước, thì một đồng cân (ch ) bằng 3,75 gam. Như vậy hối lượng của 03 (ba) ch Hêrôin là 11,25 gam; hối lượng của 05 (năm) ch Nhựa thuốc phiện là 18,75 gam. Tuy nhiên 02 (hai) ch Hêrôin, 05 (năm) ch Nhựa thuốc phiện các b cáo mua bán trái phép b phát hiện thu giữ ngày 15/10/2018, được Kết luận giám đ nh số 205/GĐMT ngày 17/10/2018 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an t nh Lào Cai xác đ nh 02 (hai) ch Hêrôin có hối lượng là 7,45 gam, thì 01 (một) ch Hêrôin có hối lượng là 3,725 gam. Vậy hối lượng 01 (một) ch Hêrôin theo ết luận giám đ nh nhỏ hơn hối lượng tính 01 (một) ch Hêrôin theo Ngh đ nh 86; 05 (năm) ch Nhựa thuốc phiện là 26 gam, thì 01 (một) ch Nhựa thuốc phiện là 5,2 gam. Vậy hối lượng của 01 (một) ch Nhựa thuốc phiện theo ết luận giám đ nh lớn hơn hối lượng tính 01 (một) ch Nhựa thuốc phiện theo Ngh đ nh 86. Như vậy, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì các b cáo phải ch u trách nhiệm hình sự về hối lượng ma túy mua bán vào các ngày 13, 14/10/2018 như sau: hối lượng của 03 (ba) ch Hêrôin là 3 x 3,725 gam = 11,175 gam; hối lượng của 05 (năm) ch Nhựa thuốc phiện là 5 x 3,75 gam = 18,75 gam.
Do đó tổng cộng cả 3 lần các b cáo mua ma túy từ ngày 13 đến ngày 15/10/2018 được xác đ nh là 18,625 gam Hêrôin và 44,75 gam nhựa Thuốc phiện. Hành vi này đã đủ căn c để ết luận các b cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với các tình tiết đ nh hung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng hối lượng ho c thể tích của các chất đó tương đương hối lượng ho c thể tích chất ma túy quy đ nh tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o hoản này” quy đ nh tại điểm b, p hoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự”.
Đây là v án đồng phạm mang tính chất giản đơn: B cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1) vừa là người hởi xướng, rủ rê b cáo Tẩn Láo T2 (Tả 2) tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy b cáo phải ch u trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 18,625 gam Hêrôin và 44,75 gam Nhựa thuốc phiện với vai trò chính trong v án. B can Tả 2 đồng phạm với b can Tả 1 trong việc thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, với vai trò là người thực hành; B can Tẩn Láo T3 (Tả 3) là người được b can Tả 1 gọi điện hỏi mua ma túy. Sau đó b can Tả 3 rủ b can Tẩn Phù T đi mua ma túy về bán, b can Tẩn Phù T đồng và là người trực tiếp đi mua ma túy vào các ngày 13, 14/10/2018. Như vậy b can Tẩn Phù T đồng phạm với b can Tả 3 trong việc mua bán trái phép 18,625 gam Hêrôin và 44,75 gam Nhựa thuốc phiện với vai trò là người thực hành tích cực.
Hành vi của các b cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản l các chất ma túy của Nhà nước. Do vậy cần phải có một m c án nghiêm hắc tương x ng với hành vi phạm tội do b cáo gây ra.
Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các b cáo hông có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự theo quy đ nh tại Điều 52 Bộ luật hình sự .
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử nhận đ nh trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các b cáo đều thành hẩn hai báo và tự thú hai ra các lần phạm tội trước đó. Do vậy các b cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và việc áp d ng hình phạt đối với các b cáo, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản l các chất ma túy của Nhà nước. Do vậy cần phải có một m c án nghiêm hắc tương x ng với hành vi phạm tội do b cáo gây ra. Tuy nhiên, các b cáo có nhân thân tương đối tốt, hông có tiền án, tiền sự. Các b cáo đều có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “tự thú” và “thành hẩn hai báo” quy đ nh tại điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho b cáo. Riêng b cáo Tả 2 còn được cơ quan điều tra xác nhận đã cung cấp thông tin giúp cơ quan điều tra phá án trong một v án hác, do vậy cần áp d ng thêm cho b cáo tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy đ nh tại điểm t hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy các b cáo không nghề nghiệp, tài sản, nên hông áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các b cáo.
Về vật ch ng: Số ma túy còn lại sau trích mẫu giám đ nh gồm: 3,63 gam Hêrôin ở bì M1, 3,49 gam Hêrôin ở bì M2 và 24,83 gam nhựa thuốc phiện ở bì M3 được niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng ỹ thuật hình sự Công an t nh Lào Cai, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần t ch thu tiêu hủy; 01 điện thoại ITEL của Tả 1; 01 điện thoại FPT của Tả 2 ; 01 điện thoại Iphone của Tả 3; 01 điện thoại KECHAODA K91 màu nâu tạm giữ của Tẩn Phù T. Xét thấy những điện thoại này các b cáo đã sử d ng vào việc liên lạc để mua, bán các chất ma túy nên cần t ch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại ASUS màu vàng tạm giữ của Tẩn Phù T. Xét thấy chiếc điện thoại này b cáo hông sử d ng vào việc phạm tội, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án. Trả lại cho b cáo Tẩn Phù T 01 ch ng minh nhân dân mang tên Tẩn Phù T trong quá trình đã thu giữ.
Đối với 01 sổ hộ hẩu mang tên Chảo Láo Sử, 01 xe máy Yamaha Nouvo màu trắng đen biển iểm soát 24B2-338.74 và 01 đăng xe biển iểm soát 24B2-338.74, xét thấy đây là tài sản chung của b cáo Tẩn Phù T và vợ là ch Tẩn Tả M. Quá trình điều tra, ch M hông biết b cáo Tẩn Phù T sử d ng vào việc làm phương tiện đi mua bán ma túy nên có nguyện vọng xin được nhận lại xét thấy cần trả lại 01 sổ hộ hẩu mang tên Chảo Láo S và 1/2 tr giá chiếc xe cho ch M quản lý. 1/2 tr giá chiếc xe còn lại cần t ch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) bản phô tô ch ng minh nhân dân mang tên Tẩn Láo T, sinh ngày 22/08/1999, 01 (một) bản phô tô ch ng minh nhân dân mang tên Tẩn Láo Tả, sinh ngày 16/05/1999, xét thấy đây là các giấy tờ hông có giá tr sử d ng nên cần t ch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của b cáo Tẩn Láo T3 (Tả 3) và 1.150.000 đồng của Tẩn Phù T, hiện đang được gửi vào tài hoản tạm gửi tại Kho bạc nhà nước thành phố Lào Cai cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với số tiền mà các b cáo được hưởng lợi do các lần phạm tội mà có gồm: Tả 1 và Tả 2 mỗi b cáo được hưởng lợi 2.300.000 đồng; B cáo Tả 3 được lợi 1.050.000 đồng, Tẩn Phù T được lợi 1.350.000 cần truy thu để nộp vào ngân sách nhà nước.
. Đối với người ph nữ mà các b cáo Tẩn Phù T, Tẩn Láo Tả (Tả 3) khai đã bán ma túy cho các b cáo nhà ở đầu thôn Trung Chải, xã D, huyện B, t nh Lào Cai. Trong quá trình điều tra, các b cáo đều hai nhận do việc mua bán diễn ra rất nhanh, người ph nữ lại đeo hẩu trang do đó hông nhìn rõ m t của người này nên hông thể nhận dạng được. Quá trình điều tra xác minh tại đ a phương xác đ nh có người ph nữ tên Tẩn Sì Mẩy (sinh năm 1957, trú tại: thôn Trung Chải, xã D, huyện B, t nh Lào Cai) có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Hiện tại Tẩn Sì Mẩy hông có m t tại đ a phương, đi đâu, làm gì đ a phương hông quản l được. Do vậy, hông triệu tập Tẩn Sì Mẩy lên làm việc được, hi nào xác minh, làm rõ được sẽ xử l sau.
Đối với người ph nữ đã trực tiếp gọi điện thoại cho b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1) để trao đổi mua bán ma túy (chiếc điện thoại b cáo Tả 1 dùng để nghe gọi trao đổi mua bán ma túy với người ph nữ, b cáo đã làm mất trước hi b bắt nên hông thu giữ được); người nam giới b cáo Tả 1 hai g p b cáo trên đường Thủy Hoa thuộc phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai nhờ b cáo mua ma túy; người ph nữ và người nam giới các b cáo Tả 1, Tẩn Láo T2 (Tả 2) hai đưa tiền cho các b cáo tại đường Minh Khai thuộc phường P, thành phố Lào Cai để đi mua ma túy. Những người trên các b cáo đều hông biết tên tuổi, đ a ch c thể, ngoài lời hai của các b cáo hông có tài liệu nào hác để ch ng minh. Do vậy, hông điều tra làm rõ được, hi nào xác minh, làm rõ được sẽ xử l sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi b cáo phải ch u số tiền là 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T (Chảo Láo S) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn c điểm b, p hoản 2 Điều 251; Điều 17, 58, điểm r, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
B cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1) 09 (Chín) năm tù; Các b cáo Tẩn Láo T3 (Tả 3), Tẩn Phù T (Chảo Láo S) mỗi b cáo 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với các b cáo tính từ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
Căn c điểm b, p hoản 2 Điều 251; Điều 17, 58, điểm r, s, t hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Tẩn Láo T2 (Tả 2) 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 10 năm 2018.
Về vật ch ng: Căn c điểm a, b, c hoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c hoản 2, điểm a hoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
T ch thu tiêu hủy 7,12 gam Hêrôin và 24,83 gam nhựa thuốc phiện đựng trong 01 (Một) phong bì thư được tái niêm phong theo đúng quy đ nh của Phòng ỹ thuật hình sự Công an t nh Lào Cai, trên m t bì thư có ghi: “Vật ch ng còn lại sau trích mẫu giám đ nh thu trong v Tẩn Láo T1 và Tẩn Láo T2 có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 15 tháng 10 năm 2018 tại hu vực cổng Đền Thượng thuộc tổ 8, phường L, thành phố L, t nh Lào Cai”.
T ch thu, tiêu hủy giấy phô tô ch ng minh thư nhân dân của Tẩn Láo T1 sinh ngày 22/08/1999 và ch ng minh thư nhân dân (bản phô tô) của Tẩn Láo T2 sinh ngày 16/05/1999.
T ch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màn hình cảm ng b vỡ, đã qua sử d ng cùng 01 sim Viettel của Tẩn Láo Tả (Tả 1), 01 điện thoại nhãn hiệu FPT cùng 02 sim Vinaphone của Tẩn Láo Tả (Tả 2), 01 điện thoại Iphone cùng 01 thẻ sim Vinaphone của Tẩn Láo Tả (Tả 3), 01 điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA K91 màu nâu cùng 02 thẻ sim của Tẩn Phù T.
T ch thu, nộp ngân sách nhà nước 1/2 tr giá chiếc xe máy Yamaha Nouvo màu trắng đen biển iểm soát 24 B2-338.74 của Tẩn Phù T và Tẩn Tả Mẩy.
Truy thu của các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1) và Tẩn Láo T2 (Tả 2) mỗi b cáo 2.300.000 đồng, truy thu 1.050.000 đồng của b cáo Tẩn Láo T3 (Tả 3) và 1.350.000 đồng của Tẩn Phù T để nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại cho ch Tẩn Tả Mẩy tr giá 1/2 chiếc xe máy nêu trên, 01 sổ hộ hẩu mang tên Chảo Láo Sử.
Trả lại cho Tẩn Phù T 01 ch ng minh thư nhân dân mang tên Tẩn Phù T.
Tạm giữ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu ASUS màu vàng cùng 01 thẻ sim Vietel và 1.150.000 đồng, 01 đăng xe biển iểm soát 24 B2-338.74 của Tẩn Phù T; 200.000 đồng của b cáo Tẩn Láo T3 (Tả 3) để đảm bảo công tác thi hành án. Xác nhận số tiền trên đã được gửi vào tài hoản tạm gửi số 3949.0.9049863 tại Kho bạc nhà nước thành phố Lào Cai.
Về án phí: Căn c hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a hoản 1 Điều 23 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đ nh về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các b cáo Tẩn Láo T1 (Tả 1), Tẩn Láo T2 (Tả 2), Tẩn Láo T3 (Tả 3) và Tẩn Phù T (Chảo Láo S) mỗi b cáo phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các b cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND t nh; - VKSND t nh - VKS TP; - CATP; B cáo; - Chi c c THADSTP; - Sở Tư pháp; - Phòng Hồ sơ CA t nh (PV06); - Lưu hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |